Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống
(Confieso que he vivido) là cuốn sách tập hợp những hồi ký của nhà thơ Chile Pablo
Neruda do nhà xuất bản Seix Barral in lần đầu vào năm 1974. Đây là một tác phẩm
xuất bản sau khi tác giả đã qua đời, tập hợp những ấn tượng của tác giả gần như
cho đến lúc chết.
Theo khảo sát của “Viện sách Tây Ban Nha”, cuốn sách được xếp hạng thứ hai
trong danh sách mười cuốn sách bán chạy nhất của Tây Ban Nha năm 1975.
Trong cuốn sách, Neruda hồi tưởng về những sự kiện, những điều mà ông
đã chứng kiến trong suốt cuộc đời mình: những người hút thuốc phiện ở Thái Lan,
người Anh cai trị ở Miến Điện, kinh nghiệm của ông trong việc đối phó với tất cả
các loại phụ nữ trong nhiều tình huống, các cuộc trò chuyện giữa nhà thơ và
Ernesto Che Guevara vv…, những chuyến đi tới Mexico hay Liên Xô, Tây Ban Nha
trong thời Đệ nhị Cộng hòa và công việc nặng nhọc sau khi Nội chiến Tây Ban Nha
bùng nổ để cứu những người Cộng hòa, những người vô chính phủ và tất cả những
người bị áp bức trong tù, đưa họ đến tàu Winnipeg đi lưu đày. Những điều này và
rất nhiều các sự kiện khác được tái tạo rõ ràng trong tâm trí của tác giả.
Tác phẩm, được viết trong nhiều năm, kết thúc bằng cái chết của nhà
thơ, chỉ mười hai ngày sau cuộc đảo chính bạo lực năm 1973, chấm dứt cuộc sống
và chính quyền của Salvador Allende. Neruda kết thúc những ký ức của mình bằng
cách lên án cuộc đảo chính đẫm máu và đau đớn nhớ lại hình bóng của người bạn mình,
Tổng thống Allende.
Sau khi xuất bản tác phẩm này, có một lời thú nhận mà Neruda từng nói rằng
ông đã hãm hiếp một phụ nữ khi ông làm lãnh sự ở Ceylon vào năm 1929.
Rằng “tôi đã sống” thì chẳng có gì lạ lùng với một người đã sống 69 năm
ở cuộc đời này nhưng tại sao lại phải thú nhận. Có thể nói đây là những lời bộc
bạch cởi mở của một nhà thơ, nhà ngoại giao, nhà chính trị đã sống một cuộc đời
đầy đủ với những hỉ nộ ái ố của cuộc đời người, mà theo tôi, có vẻ như ông đã không
hề giấu diếm điều gì.
Tôi đã đọc cuốn sách gồm 340 trang này nhiều lần, đã định dịch hết ra
tiếng Việt nhưng thấy rằng dịch hết cũng chẳng để làm gì. Nếu tôi có đưa đi in
thì cũng sẽ bị người ta cản trở, chẳng phải vì có điều gì nhạy cảm hay liên
quan đến chính trị gì cả mà chỉ thế thôi.Những tập thơ mà tôi dịch của các tác
giả cổ điển của thế giới vẫn bị người ta làm khó nếu in ra. So với hàng chục
năm dịch gần 400 nhà thơ của đông tây kim cổ thì dịch cuốn sách này chỉ mất mấy
tháng. Dịch thì không lâu nhưng để chú thích đầy đủ cho bạn đọc Việt Nam hiểu
trọn vẹn thì cần thời gian tra cứu về những tên riêng, tên địa lý và nhiều thuật
ngữ trong nhiều lĩnh vực với một không gian trải dài hầu như khắp quả địa cầu.
Bởi thế, trước mắt, tôi chỉ dịch 8 trong số 135 bài để phục vụ cho cuốn
“36 nhà thơ đoạt giải Nobel” mà tôi đã dịch hàng chục năm nay, một phần trong số
này đã in trong cuốn “Các nhà thơ giải Nobel” do Nhà xuất bản Lao động ấn hành
năm 2006. Những bài tôi đã dịch chỉ liên quan đến giải thưởng Nobel, những bài
viết về các tác giả đoạt giải Nobel, những bài liên quan đến thơ ca và những kẻ
thù văn học của Pablo Neruda.
TÔI XIN THÚ NHẬN RẰNG TÔI ĐÃ SỐNG
(Confieso que he vivido)
Bài thơ đầu tiên của tôi
Bây giờ tôi sẽ kể câu chuyện về các loài chim. Trên hồ Budi, thiên nga
bị người ta săn lùng một cách tàn nhẫn. Họ leo lên thuyền chầm chậm rồi chèo
thuyền về phía chúng rất nhanh và rất nhanh ... Thiên nga, giống như hải âu lớn,
bay kém, trước tiên chúng phải chạy trên mặt nước. Chúng giang đôi cánh rộng của
mình. Khi đó chúng bị người ta tiếp cận và dùng gậy bắt.
Người ta mang cho tôi một con thiên nga sắp chết. Đó là một loài chim đẹp
mà tôi chưa từng thấy trên thế giới – một con thiên nga có cổ màu đen. Một con
tàu tuyết với cái cổ màu đen tuyệt đẹp, như thể bị quấn vào một chiếc vớ lụa
đen. Chim có mỏ màu cam, và mắt màu đỏ.
Đấy là một nơi gần biển, ở Puerto Saavedra, Imperial del Sur.
Người ta đưa cho tôi con chim đã sắp chết. Tôi rửa vết thương cho nó, đẩy
bánh mì và cá vụn vào cổ họng. Nó nôn ra mọi thứ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục chữa vết
thương cho nó, thiên nga bắt đầu nhận ra rằng tôi là bạn của nó. Và tôi nhận ra
rằng nó sắp chết vì buồn nhớ. Sau đó, nâng con chim nặng trên tay, tôi mang nó
dọc theo các con đường đi ra sông. Thiên nga bơi một chút – gần bên cạnh tôi.
Tôi muốn nó săn cá và chỉ cho nó xuống đáy, nơi có những con cá bạc màu lướt
qua giữa những viên sỏi, trên cát. Nhưng con chim đưa đôi mắt buồn nhìn về phía
xa xa.
Cứ như vậy – hằng ngày, trong chừng hai mươi ngày hoặc thậm chí nhiều
hơn, tôi mang nó ra sông, và sau đó đưa về nhà. Con thiên nga cao gần bằng chiều
cao của tôi. Một hôm chim tỏ ra vẻ uể oải, dù tôi cố gắng cho chim bắt cá nhưng
nó vẫn lờ đờ – tôi cầm nó trên tay để đưa về nhà. Tôi cảm thấy dường như có một
dải băng dài đã mở ra và dường như có một bàn tay đen chạm vào mặt tôi. Đó là
cái cổ cong dài gục xuống. Do đó tôi hiểu được rằng thiên nga không hót khi nó
chết.
Mùa hè đang thiêu đốt ở Cautín. Đốt cháy bầu trời và lúa mì. Trái đất
muốn phục hồi sau một giấc ngủ dài. Những ngôi nhà ở đây không thích nghi với
mùa hè và cũng không thích nghi với mùa đông. Tôi rời làng và bước đi. Tôi bị lạc
trên ngọn đồi Ñielol. Tôi một mình, túi của tôi chứa đầy bọ cánh cứng. Trong hộp
của tôi có một con nhện lông. Không thể nhìn thấy bầu trời trên cao. Rừng Selva
luôn ẩm ướt, đế giày tôi trượt nhẹ, ở đâu đó một con chim đột nhiên kêu lên – đấy
là chim chukao dự báo. Một điềm báo khủng khiếp trỗi dậy từ dưới chân và ôm lấy
tôi. Hoa Copihue đông cứng bởi những giọt máu nên hầu như không thể nhìn thấy
rõ. Tôi chỉ là một sinh vật nhỏ bé dưới những cây dương xỉ khổng lồ. Một con
chim bồ câu rừng vỗ cánh khô khốc ngay bên miệng tôi. Và phía trên tôi, tiếng
chim khàn khàn. Tôi tìm đường đi thật khó khăn. Đã muộn rồi.
Bố tôi vẫn chưa đến. Ông sẽ đến vào lúc ba hoặc bốn giờ sáng. Tôi đi
lên lầu vào phòng của tôi. Tôi đọc Salgari. Và đột nhiên mưa như trút nước.
Trong nháy mắt, đêm và mưa che khuất cả thế giới. Ở đó tôi chỉ có một mình,
trong cuốn sổ tay số học của tôi, tôi viết những câu thơ. Tôi thức dậy rất sớm
vào sáng hôm sau. Mận vẫn xanh. Tôi chạy lên ngọn đồi. Tôi mang theo mình một
gói muối nhỏ. Tôi trèo lên cây, tìm một chỗ ngồi thoải mái, cẩn thận cắn một quả
mận rồi lấy ra và rắc muối lên. Sau đó ăn. Và như vậy – đến cả trăm quả mận.
Tôi biết rằng như thế là quá nhiều.
Ngôi nhà của chúng tôi bị thiêu rụi và ngôi nhà mới này chứa đầy bí ẩn
đối với tôi. Tôi trèo hàng rào và nhìn sang nhà hàng xóm. Không có ai ở đó. Tôi
trải các tấm ván, đằng sau chúng cũng chẳng có gì. Chỉ có những con nhện đáng
thương kia. Phía cuối sân là nhà vệ sinh. Những cái cây xung quanh đó có nhiều
sâu. Trên cây hạnh nhân có những quả màu trắng. Tôi biết cách bắt những con ruồi
trâu mà không làm tổn thương chúng bằng cách dùng một chiếc khăn tay. Giữ chúng
trong khăn một chút rồi đưa lên tai. Thật tuyệt vời!
Như một nhà thơ nhỏ cô đơn, một đứa trẻ mặc quần áo đen ở vùng biên giới
mênh mông đầy sợ hãi. Cuộc sống và những cuốn sách tiết lộ dần những bí mật khó
khăn cho tôi từng bước.
Tôi sẽ không bao giờ quên những gì tôi đã đọc trong buổi tối qua: một
quả mít đã cứu mạng Sandokán và đồng đội của anh ta ở Malaysia xa xôi.
Tôi không thích Búfalo Bill vì anh ta giết người bản địa. Nhưng anh ta
phi ngựa thật tuyệt vời. Những thảo nguyên và những chiếc lều hình nón của người
da đỏ thật đẹp biết bao!
Người ta thường hỏi tôi rằng tôi đã viết bài thơ đầu tiên khi nào, thơ
của tôi ra đời ra sao.
Tôi cố gắng nhớ lại. Ngày còn nhỏ, khi tôi mới học viết, đột nhiên cảm
thấy một sự xúc động mãnh liệt và tôi liền viết ra mấy dòng, một số có vần điệu,
những lời này có vẻ xa lạ, không giống với những lời nói thường ngày. Tôi đã
chép lại trên tờ giấy trắng và bị chi phối bởi một cảm giác khác thường mà trước
đây tôi chưa từng biết đến, vẻ như u sầu, vẻ như buồn bã. Đó là bài thơ tôi viết
tặng mẹ – người mẹ kế, thiên thần hộ mệnh của tuổi thơ tôi. Tôi đã không thể
đánh giá chất lượng của tác phẩm đầu tay này và tôi đưa bài thơ cho bố mẹ tôi.
Họ ngồi trong phòng ăn, với giọng trầm trầm, những câu chuyện của bố mẹ như những
dòng sông cách ngăn giữa thế giới của trẻ em và người lớn. Vẫn còn run rẩy từ
những xúc cảm đầu tiên, tôi đưa cho họ một mảnh giấy. Bố tôi lơ đãng cầm lấy,
lơ đãng đọc nó, và không kém phần lơ đãng trả lại cho tôi và hỏi:
- Con chép lại từ đâu vậy?
Và ông lại lặng lẽ nói chuyện với mẹ về những vấn đề quan trọng và xa
xôi của ông.
Dường như bài thơ đầu tiên của tôi đã ra đời như vậy và tôi đã có được
một ví dụ đầu tiên về sự phê bình văn học cẩu thả.
Trong khi đó, tôi vẫn tiến về phía trước để tìm hiểu thế giới – người
hoa tiêu cô đơn trong một biển sách hỗn độn và vô tận. Sự thèm đọc sách không
giảm bớt ngày cùng như đêm. Trên bờ biển, ở Puerto Saattedra nhỏ bé, tôi tìm thấy
một thư viện thành phố và một nhà thơ già, don Augusto Winter, người đã ngạc
nhiên trước sự khao khát đọc sách của tôi. “Anh đã đọc nó chưa?” – ông hỏi tôi,
rồi đưa cho tôi một cuốn sách mới của Vargas Vila, hoặc Ibsen, hoặc Rocambole.
Giống như một con đà điểu, tôi nuốt bừa tất cả.
Vào thời điểm này, một phụ nữ cao dong dỏng, thường mặc váy dài và giày
gót thấp, vừa đến Temuco. Đây là giám đốc mới của trường nữ sinh. Cô ấy đến từ
một thành phố miền nam, từ tuyết của eo biển Magellan. Cô ấy tên là Gabriela
Mistral.
Tôi thấy cô ấy đi bộ trên đường phố trong bộ quần áo dài và tôi thấy sợ
cô ấy. Nhưng khi người ta đưa tôi đến gặp cô ấy, tôi nhận ra rằng cô tốt bụng
và rất dễ thương. Khuôn mặt da ngăm đen của cô ấy chứng tỏ dòng máu bản địa chiếm
ưu thế, giống như bình rượu Araucania xinh đẹp, lấp lánh những vệt trắng khi cô
ấy cười vui làm cho căn phòng trở nên sáng sủa hơn.
Tôi còn quá trẻ để mà làm bạn với cô ấy, tôi quá rụt rè và tự ti. Tôi
chỉ gặp cô ấy một vài lần. Nhưng điều này là khá đủ – đi đâu tôi cũng mang theo
những cuốn sách mà cô ấy tặng. Đấy luôn là những cuốn sách của các nhà văn Nga
mà cô ấy coi là hiện tượng đáng chú ý nhất trong văn học thế giới. Tôi có thể
nói rằng Gabriela đã giới thiệu cho tôi một thế giới quan nghiêm túc và cởi mở
vốn là đặc trưng của các nhà văn Nga, và rằng Tolstoy, Dostoevsky, Chekhov trở
thành niềm say mê sâu sắc nhất của tôi. Và họ tiếp tục đồng hành cùng với tôi.
= =
Chú thích những tên riêng trong bài:
*Emilio Salgari (1862 – 1911) – Nhà văn Ý
*Sandokán – là nhân vật chính của những tiểu thuyết phiêu lưu mà Emilio
Salgari là tác giả
*Búfalo Bill là biệt danh của William Frederick Cody (1846 – 1917) –
Doanh nhân, người nổi tiếng của giới giải trí Mỹ
*“Đó là bài thơ tôi viết tặng mẹ – người mẹ kế, thiên thần hộ mệnh của
tuổi thơ tôi”. Mẹ đẻ của nhà thơ, như ông đã viết trong bài “Thời thơ ấu và thơ
ca”, rằng ông sinh ngày 12 tháng 7 năm 1904, một tháng sau đó mẹ ông đã chết vì
bệnh lao phổi.
*Augusto Winter Tapia (1868-1927) là một thủ thư và nhà thơ người Chilê
*José María Vargas Vila (1860 – 1933) – Nhà văn Colombia
*Henrik Ibsen (1828 – 1906) – Nhà soạn kịch người Na Uy
*Rocambole – Nhân vật chính của loạt tiểu thuyết phiêu lưu và hình sự
trong thế kỷ 19 của nhà văn Pháp Pierre Alexis Ponson du Terrail (Ponson du
Terrail, 1829 – 1871), Rocambole là tên gọi chung cho những nhà thám hiểm.
*Gabriela Mistral (1889 – 1957) – Nhà giáo dục, nhà ngoại giao, nhà thơ
người Chilê đoạt giải Nobel Văn học năm 1945
*Lev Tolstoy (1828 – 1910) – Nhà văn Nga
*Fyodor Dostoyevsky (1821 – 1861) – Nhà văn Nga
*Anton Chekhov (1860 – 1904) – Nhà văn Nga
Năm 1932, sau chuyến đi hai tháng bằng đường biển, tôi trở về Chilê. Ở
đó, tôi đã xuất bản cuốn “Người bắn ná nhiệt thành”, là người đi chu du cùng
tôi và cuốn “Trú ngụ trên trái đất” mà tôi đã viết ở phương Đông. Vào năm 1933,
tôi được bổ nhiệm làm Lãnh sự Chilê tại Buenos Aires và vào tháng 8 tôi đã đến
đó.
Gần như cùng lúc, Federico Garcia Lorca đã đến thành phố này để cùng
tôi dàn dựng vở bi kịch “Đám cưới máu” với nhóm Lola Membrive ở đó. Chúng tôi
đã gặp nhau ở Buenos Aires, sau đó các nhà văn và bạn bè đã nhiều lần sắp xếp
các kỳ nghỉ cho chúng tôi. Quả thật, có những rắc rối cũng đã xảy ra. Federico
có những đối thủ. Tôi cũng luôn có đối thủ và cho đến ngày hôm nay không thiếu
những kẻ như vậy. Những đối thủ này luôn cố gắng tắt đèn để không ai nhìn thấy
bạn. Điều này cũng đã xảy ra tại thời điểm đó. Hội Văn bút (Pen Club) đã quyết
định tổ chức một bữa tiệc để vinh danh chúng tôi với Federico trong khách sạn
Plaza, và khi hiểu rằng có rất nhiều người muốn tham gia thì một ai đó đã suốt
ngày gọi cho các số điện thoại, thông báo rằng buổi lễ đã bị hủy bỏ. Họ đã cố gắng
hết sức để gọi điện cho mọi người, thậm chí còn gọi cho giám đốc khách sạn,
nhân viên tổng đài điện thoại và đầu bếp để những người này không chấp nhận lời
chúc mừng và không chuẩn bị bữa tối. Nhưng âm mưu của họ đã thất bại, và chúng
tôi vẫn gặp Garcia Lorca trong vòng tay của hàng trăm nhà văn người Argentina.
Chúng tôi làm họ ngạc nhiên. Chúng tôi đã chuẩn bị cho anh ấy một bài
phát biểu alimón. Có thể bạn không biết từ này có nghĩa là gì và tôi cũng không
biết. Federico, một bậc thầy trong tất cả các ý tưởng và những trò đùa thực tế,
đã giải thích:
“Có một kỹ thuật như vậy, khi hai người đấu bò chống lại một con bò đực
dùng một chiếc áo choàng cho hai người. Đây là một trong những kỹ thuật nguy hiểm
nhất trong nghệ thuật đấu bò. Bởi thế, điều này rất ít khi xảy ra. Nó chỉ xảy
ra hai hoặc ba lần trong một trăm năm, và điều này chỉ có thể xảy ra nếu hai
người đấu là anh em ruột hoặc họ có cùng huyết thống. Đây được gọi là trận chiến
al alimón, và hôm nay chúng ta sẽ làm điều tương tự với bài phát biểu”.
Và chúng tôi đã làm điều đó nhưng không một ai biết trước. Khi đến thời
điểm cảm ơn vị Chủ tịch của Hội Văn bút cho bữa tiệc, chúng tôi đã đứng dậy cả
hai cùng một lúc, như hai người đấu bò, để nói một lời phát biểu. Mọi người
đang ngồi ở những bàn riêng biệt, Federico – ở một đầu, còn tôi – ở đầu kia, và
khi cả hai chúng tôi cùng đứng dậy thì những người ngồi cạnh tôi, nghĩ rằng có
sự nhầm lẫn gì đấy, đã kéo áo khoác của tôi để tôi ngồi xuống, và những người
ngồi cạnh Federico, cũng kéo anh ta như vậy. Chúng tôi bắt đầu nói cùng với
nhau, tôi bắt đầu nói: “Thưa các Quí bà…”, thì Federico tiếp tục: “và thưa các
Quí ông…”, và cứ lần lượt như vậy để có được một bài phát biểu thống nhất. Bài
phát biểu này được dành riêng cho Rubén Darío, bởi vì cả García Lorca và tôi, mặc
dù không ai có thể nghi ngờ chúng tôi về chủ nghĩa hiện đại, đã tôn vinh Rubén
Darío là một trong những người sáng tạo tuyệt vời của ngôn ngữ thơ bằng tiếng
Tây Ban Nha.
Dưới đây là nội dung của bài phát biểu này.
NERUDA. Thưa các quý bà...
LORCA ... và thưa các quý ông! Có một kỹ thuật trong đấu bò, được gọi
là al alimón khi hai người đấu né con bò, trốn đằng sau một chiếc áo choàng.
NERUDA. Federico và tôi, được kết nối bằng một sợi dây điện, sẽ biểu diễn
theo cặp tại buổi lễ quan trọng này.
LORCA. Đã trở thành một thông lệ: tại các cuộc hội ngộ như ngày hôm
nay, các nhà thơ thể hiện bằng một ngôn ngữ sống động – gõ vào bạc hoặc gỗ, mỗi
người theo cách riêng của mình để chào đón bạn bè.
NERUDA. Nhưng hôm nay chúng tôi sẽ mời một thực khách đến dự cùng quí vị,
người này không còn sống trên đời nữa, là một trong những người được ẩn trong
bóng tối của cái chết, cái chết lớn nhất của tất cả các trường hợp tử vong,
chúng tôi sẽ gọi ông là người góa vợ của cuộc đời, mà ông là một người chồng mẫu
mực đã từng. Chúng ta sẽ ẩn mình trong cái bóng rực lửa của ông và bắt đầu lặp
lại tên ông cho đến một khi ông xuất hiện trở lại từ quên lãng.
LORCA. Và sau đó chúng tôi – với sự dịu dàng của chim cánh cụt trước
khi tỏ lòng kính trọng với nhà thơ tài hoa Amado Villar – sẽ ném cái tên vĩ đại
này lên khăn trải bàn, chúng tôi biết rằng ly sẽ vỡ, dĩa sẽ nhảy trên bàn và bức
tường biển sẽ sụp đổ trên chiếc khăn trải bàn này. Chúng tôi sẽ gọi tên nhà thơ
của châu Mỹ và Tây Ban Nha: Rubén ...
NERUDA. Dario, Bởi vì thưa các quý bà ...
LORCA ... và thưa các quý ông ...
NERUDA. Quảng trường Rubén Darío ở đâu tại Buenos Aires?
LORCA. Tượng đài Rubén Darío nằm ở đâu?
NERUDA. Ông từng rất yêu công viên. Vậy thì công viên Rubén Darío nằm ở
đâu?
LORCA. Cửa hàng hoa Rubén Darío ở đâu?
NERUDA. Những cây táo ở đâu, những quả táo mang tên Rubén Darío ở đâu?
LORCA. Cánh tay của Rubén Darío bị chặt ở đâu?
NERUDA. Dầu ở đâu, nhựa ở đâu, thiên nga được đặt tên theo Rubén Darío ở
đâu rồi?
LORCA. Rubén Darío yên nghỉ tại “Nicaragua quê hương” của mình, dưới một
con sư tử bằng đá cẩm thạch đáng sợ, giống như những người giàu có đặt ở cổng
vào nhà của họ.
NERUDA. Một con sư tử từ cửa hàng dành cho người tạo ra sư tử, một con
sư tử không quen thuộc với các ngôi sao dành cho người có quyền năng trao những
ngôi sao cho người khác.
LORCA. Với một tính từ, ông có thể truyền tải tiếng ồn của Selva và, giống
như Luis de Granada, chúa tể của ngôn ngữ, vươn lên tầm cao đầy sao với những
bông hoa chanh, và với một con nai, với những động vật thân mềm đầy sợ hãi, ông
dẫn chúng ta xuống biển trên những chiếc thuyền buồm và bóng tối ẩn trong con
ngươi của chúng ta, tạo nên một đám rước rượu khổng lồ qua màu xám nhất của buổi
tối mà bầu trời có. Như một nhà thơ lãng mạn, ông bị ngăn cách với những cơn
gió nam và dựa vào vòm cột Corinto, hít thở sâu, nhìn thế giới với một sự nghi
ngờ buồn bã và mỉa mai sống qua bao thời đại.
NERUDA. Cái tên màu đỏ của ông xứng đáng với tất cả mọi ký ức, xứng
đáng với ký ức hành hạ trái tim ông, sự lang thang của ông trong tất cả các
vòng địa ngục và lên đến những cung điện vinh quang – đấy là tất cả những gì đi
kèm với nhà thơ vĩ đại, bây giờ và mãi mãi.
LORCA. Ông là nhà thơ Tây Ban Nha, ông là một bậc thầy của những bậc thầy
già và vẫn còn rất trẻ ở Tây Ban Nha; ông là một người cố vấn phổ quát và hào
phóng, điều mà các nhà thơ đương thời của chúng ta thiếu rất nhiều. Ông là người
thầy của Valle Inclan và Juan Ramon Jimenez, người thầy của anh em Machado; giọng
nói của ông là nước và muối tiêu trong lưỡi. Kể từ thời Rodrigo Caro, anh em
nhà Argensolas hay don Juan Arguijo, người Tây Ban Nha đã không có một bữa tiệc
như vậy, một cuộc đụng độ của các phụ âm, của ánh sáng và hình thức như trong
thơ của Rubén Darío. Từ phong cảnh của Velázquez, lửa trại của Goya, từ sự u sầu
của Quevedo và màu hồng trên má của các cô thôn nữ Mallorca – Darío đi trên
vùng đất Tây Ban Nha như trên vùng đất thân thuộc của mình.
NERUDA. Thủy triều, biển ấm ở phương bắc đã đưa ông đến bờ biển Chilê
và để ông trên một bờ đá cứng, đại dương đánh vào ông và ngân vang bằng bọt biển
và tiếng chuông của mình, và ngọn gió đen của Valparaíso lấp ông bằng muối. Hôm
nay chúng ta hãy tạo ra một tượng đài cho ông từ gió bị khói và giọng nói xuyên
qua, từ mọi thứ xung quanh chúng ta, từ cuộc sống, bởi vì những vần thơ tuyệt vời
của ông từng vượt qua tiếng động và những giấc mơ.
LORCA. Nhưng tôi muốn đổ máu của ông lên bức tượng bằng gió này, giống
như một nhánh san hô nhảy nhót và múa may trên sóng, và bó dây thần kinh như
chùm những tia sáng, và cái đầu của nhân ngưu, nơi mà tuyết Gongora được vẽ bằng
đường bay của chim ong, một ánh nhìn thông qua hàng triệu giọt nước mắt, và cả những
khiếm khuyết. Những kệ sách của ông có đầy những bông hoa tươi tốt, những khoảng
lặng ngừng, có tiếng sáo hát, có những chai rượu cognac với sự say sưa đầy kịch
tính, sự quyến rũ đầy mùi vị xấu xa và những lời nói thẳng thắn đáng xấu hổ này
làm cho đám đông của thơ ông trở nên gần gũi với đời thường. Và bây giờ, vượt
lên trên tất cả các chuẩn mực, vượt qua mọi hình thức và trường phái, khả năng
sinh sôi nảy nở của thơ ông tiếp tục sống.
NERUDA. Federico García Lorca là người Tây Ban Nha, và tôi là người
Chilê, trong vòng tay của anh em bè bạn, chúng tôi xin cúi đầu trước hình bóng
vĩ đại, người đã từng hát cao hơn chúng tôi và giọng hát này đã từng ca ngợi đất
nước Argentina, nơi mà chúng tôi đang có mặt ngày hôm nay.
LORCA. Pablo Neruda là người Chile, và tôi là người Tây Ban Nha, chúng
ta có một ngôn ngữ chung và có chung một nhà thơ lớn của Nicaragua, của
Argentina, của Chilê và của Tây Ban Nha – nhà thơ Rubén Darío vĩ đại.
NERUDA và LORCA. Chúng ta cùng nâng cốc chúc mừng vinh quang và danh dự
của ông.
** **
Hàng trăm lồng chim trĩ đủ màu sắc từ tất cả các quốc gia treo dọc các
lối đi. Thư viện chất đầy những cuốn sách cũ nhất mà chủ sở hữu đã mua bằng điện
tín tại các cuộc đấu giá của các nhà thư tịch châu Âu, ngoài ra, nó rất lớn, có
rất nhiều sách trong đó. Nhưng điều ngoạn mục nhất là sàn của phòng đọc khổng lồ
này được bao phủ hoàn toàn bằng da báo được khâu lại với nhau để tạo thành một
tấm thảm khổng lồ duy nhất. Tôi được biết rằng chủ sở hữu có các đại lý đặc biệt
ở Châu Phi, Châu Á và Amazon, những người chỉ tham gia vào việc mua da của báo,
đại bàng, những giống mèo quí hiếm, và bây giờ da của chúng lấp lánh dưới chân
tôi trong thư viện tuyệt vời này.
Đó là ngôi nhà của Natalio Botan nổi tiếng, một nhà tư bản có ảnh hưởng,
người làm chủ dư luận xã hội ở thành phố Buenos Aires. Federico và tôi ngồi gần
chủ nhà, đối diện với chúng tôi là một nữ thi sĩ có dáng người cao, mái tóc
vàng, đôi mắt màu xanh của cô ấy nhìn tôi thường xuyên hơn nhiều so với
Federico.
Một con bò nướng nguyên con được phục vụ cho bữa tối, con bò được mang
thẳng từ lò nướng khổng lồ, do tám hoặc mười người gáucho* khiêng trên một chiếc
cáng lớn. Đêm thật xanh và đầy sao. Mùi thơm của thịt rang trên da, một phát
minh siêu phàm của người Argentina, được hòa quyện trong không khí của đầm lầy,
với mùi thơm của cỏ ba lá và bạc hà, với tiếng rì rào của hàng ngàn con dế và
nòng nọc.
Sau bữa tối, chúng tôi đứng dậy khỏi bàn – tôi cùng với nữ thi sĩ và
Federico, người luôn vui vẻ và không ngừng cười. Chúng tôi di chuyển về phía hồ
bơi được chiếu sáng. García Lorca đã ở phía trước, tiếp tục cười và nói chuyện.
Anh cảm thấy hạnh phúc. Lorca là người như vậy. Hạnh phúc là làn da của anh.
Một tòa tháp vươn cao trên hồ bơi đầy ánh sáng. Dưới ánh đèn đêm tòa
tháp tỏa sáng bằng vôi trắng.
Chúng tôi từ từ leo lên sân thượng của tòa tháp. Và ở đó, ba chúng tôi,
những nhà thơ khác nhau về phong cách, cảm thấy mình đã tách khỏi thế giới. Bên
dưới, con mắt xanh của hồ bơi lấp lánh. Chúng tôi vẫn còn nghe rõ tiếng guitar
và những bài hát của bữa tiệc. Đêm ở phía trên chúng tôi, rất gần và đầy sao, đến
nỗi có cảm giác dường như nó sắp áp đảo và nhấn chìm chúng tôi vào chiều sâu của
nó.
Tôi ôm hôn cô gái tóc vàng cao lớn và tôi nhận ra rằng cô ấy là một người
phụ nữ bằng xương bằng thịt, và xác thịt là cảm nhận được. Trước sự ngạc nhiên
của Federico, chúng tôi nằm xuống sàn và tôi bắt đầu cởi quần áo của cô ấy, khi
tôi bất chợt nhìn thấy phía trên chúng tôi, đôi mắt to lớn của Federico đang
nhìn chăm chú, anh nhìn mà không dám tin những gì đang xảy ra.
- Ra khỏi đây đi! Đi canh cầu thang để không ai lên đây! – tôi hét lên
với anh.
Và trong khi sự hiến sinh cho bầu trời đầy sao và nữ thần của tình yêu
và sắc đẹp đang diễn ra trên tầng thượng của tòa tháp, Federico đã vui vẻ chạy
đi để hoàn thành nhiệm vụ được giao phó – làm một ma cô và một người canh gác –
nhưng anh ấy đã vội vàng và rất không may mắn khi bị ngã xuống và đếm các bậc cầu
thang. Bạn gái tôi và tôi – dù đã rất khó khăn – cũng phải đến giúp anh ấy. Đôi
chân của anh khập khiễng trong suốt mười lăm ngày.
= =
Chú thích những tên riêng trong bài:
* Rubén Darío (1867 – 1916) – nhà thơ Mỹ Latinh đầu tiên nổi tiếng thế
giới, một trong những đại diện nổi bật nhất của chủ nghĩa hiện đại trong văn học
Tây Ban Nha.
*Luis de Granada (1504 – 1588) – Nhà thần học người Tây Ban Nha
*Ramón María del Valle-Inclán (1866 – 1936) – Nhà văn Tây Ban Nha
*Juan Ramón Jiménez (1881 – 1958) – Nhà thơ Tây Ban Nha đoạt giải Nobel
Văn học năm 1956
*Rodrigo Caro (1573 – 1647) – Nhà bác học, nhà thơ Tây Ban Nha
*Gáucho – những người giống như cao bồi ở Mỹ
Sức mạnh của thơ ca
Trong thời đại chúng ta, với tất cả các cuộc chiến tranh, các cuộc cách
mạng, những biến động xã hội lớn, có một sự phong phú chưa từng thấy của thơ
ca. Bất kỳ người nào cũng va chạm với thơ khiến anh ta bị tổn thương hoặc làm
người khác tổn thương, ở khắp mọi nơi – trong sự cô độc hoặc ở nơi công cộng.
Khi viết ra những cuốn sách đầu tiên, tôi không nghĩ rằng tôi sẽ đọc những
bài thơ của mình ở quảng trường và đường phố, trong các nhà máy và công viên,
trong các hội trường và nhà hát. Tôi đã đến thăm tất cả mọi vùng miền của
Chilê, phân phát thơ của tôi cho mọi người dân của tôi, những người bình thường
nhất.
Bây giờ tôi sẽ nói về những gì đã xảy ra với tôi ở khu chợ lớn nhất và
đông dân nhất ở Santiago – chợ Vega Central.
Vào buổi bình minh, vô vàn những chiếc xe tải, xe đẩy, xe kéo mang trái
cây, hàng hóa đủ loại từ các trang trại xung quanh thủ đô về chợ. Đội quân
khuân vác là những người được trả lương thấp và họ thường đi chân đất – tụ tập ở
những quán cà phê giá rẻ, những nhà nghỉ và các quán ăn rẻ tiền trong các khu
phố gần La Vega.
Một hôm có một người lạ mặt đến đón tôi. Tôi ngồi vào xe của người này
mà không thực sự hiểu họ đưa tôi đi đâu và để làm gì. Trong túi tôi lúc đó có
cuốn sách “Tây Ban Nha trong tim”. Trên đường đi, người ta nói với tôi rằng tôi
sẽ nói chuyện với những người thợ bốc vác tại cuộc gặp do công đoàn của họ tổ
chức.
Khi bước vào căn phòng tồi tàn đổ nát, tôi cảm thấy cái lạnh buốt giá
được mô tả trong “Nocturno” của Jose Asuncion Silva, không chỉ vì lúc đó là giữa
mùa đông, mà còn từ bức tranh xuất hiện trước mắt tôi. Chừng năm mươi đến sáu
mươi người ngồi trên những chiếc thùng và những chiếc ghế kê tạm trước mặt tôi.
Một số người có đeo những chiếc túi như tạp dề, những người khác mặc áo vá cũ kỹ
và một số những người khác thì trần truồng đến tận thắt lưng, như thể họ không
quan tâm gì đến cái lạnh ở đất nước chúng tôi vào tháng Bảy. Tôi ngồi vào cái
bàn ngăn cách tôi với những khán giả có những đôi mắt màu đen như than, những
đôi mắt nhìn chăm chú của những người dân nước tôi.
Tôi nhớ Lafertte già nua từng đặt tên cho những khán giả mà trên khuôn
mặt không có một mạch máu nào dao động như thế này. Một lần, khi chúng tôi đến
Pampa salitrera, anh ấy nói: “Xem kìa, từ giữa phòng có hai người Hồi giáo đang
nhìn rất chăm chú. Họ cần những chiếc áo choàng để cho giống với các tín đồ của
sa mạc”.
Biết làm gì với những khán giả này? Biết nói về cái gì? Và những gì từ
cuộc sống của tôi có thể khiến họ quan tâm? Vì vậy, không cần phải nghĩ ra bất cứ
điều gì hợp lý, với khó khăn để kìm nén mong muốn chạy trốn, tôi đột nhiên rút
ra một cuốn sách và nói:
- Cách đây chưa lâu tôi đã ở Tây Ban Nha. Có nhiều trận đánh và đạn
pháo nổ triền miên. Các bạn hãy lắng nghe những gì tôi đã viết về nó!
Tôi phải nói rằng tôi chưa bao giờ coi cuốn “Tây Ban Nha trong tim” của
mình là một cuốn sách dễ đọc. Chắc chắn có một mong muốn cho sự rõ ràng trong
đó, nhưng nó được đắm chìm trong một vòng xoáy của những nỗi đau khổ sâu sắc và
nhiều mặt.
Lúc đầu tôi nghĩ sẽ đọc một vài bài thơ, nói một vài lời rồi tạm biệt.
Nhưng mọi thứ đã đi không xảy ra như vậy. Tôi đọc hết bài thơ này đến bài thơ
khác, khi tôi cảm thấy sự im lặng như dòng nước sâu trong đó lời nói của tôi
rơi xuống, khi tôi thấy những đôi mắt đen đó nhìn tôi như thế nào, tôi hiểu rằng
cuốn sách của tôi đã đến đúng địa chỉ. Tôi đọc và đọc, bị mê hoặc bởi âm thanh
của thơ ca, bị sốc bởi mối liên hệ từ tính nảy sinh giữa những bài thơ của tôi
và những con người bị thần linh chối bỏ này.
Tôi đọc thơ hơn một tiếng đồng hồ và khi tôi chuẩn bị ra đi, một trong
những người thợ bốc vác đứng dậy, người này có một bao tải được buộc quanh như
cái tạp dề.
- Tôi muốn thay mặt mọi người ở đây cảm ơn anh – giọng của người này rất
to – tôi muốn nói rằng chưa bao giờ có ai từng chạm vào tâm hồn chúng tôi mạnh
mẽ như vậy.
Nói xong, người này bật khóc nức nở. Tiếp theo, những người khác cũng bật
khóc. Tôi đi ra ngoài giữa vẻ ướt át và những cái bắt tay mạnh mẽ, thô ráp. Một
nhà thơ có thể giữ nguyên như vậy sau khi anh ta đã trải qua cơn lạnh và lửa
nóng được không?
Khi tôi muốn nhớ về Tina Modotti, tôi phải thực hiện một nỗ lực như thể
cố gắng để nhặt một nắm sương mù. Mong manh, gần như vô hình. Tôi có biết cô ấy
hay không biết cô ấy?
Cô vẫn rất xinh đẹp – khuôn mặt trái xoan nhợt nhạt trong khung tóc
đen, đôi mắt nhung đen to vẫn nhìn qua năm tháng. Diego Rivera miêu tả cô trên
một trong những tấm tranh treo tường của anh trong quầng sáng của một vòng hoa
lá được sao chép từ ngô.
Nhà cách mạng người Ý này, một nhiếp ảnh gia tuyệt vời, đã đến Liên Xô
để chụp ảnh những con người và những tượng đài nghệ thuật. Nhưng bị cuốn hút bởi
nhịp điệu nhanh chóng của sự sáng tạo xã hội chủ nghĩa, cô đã ném máy ảnh xuống
sông Moskva và thề sẽ cống hiến cuộc đời mình cho những công việc khiêm tốn nhất
của Đảng cộng sản. Tôi đã gặp Tina ở Mexico, nơi cô ấy thành thật thực hiện lời
thề của mình, và đã tiếc thương cô trong cái đêm khi cô ấy chết.
Chuyện xảy ra vào năm 1941. Chồng cô là Vittorio Vidale – là chỉ huy
trưởng nổi tiếng Carlos của Trung đoàn 5. Tina Modotti chết vì một cơn đau tim
trong một chiếc taxi trên đường về nhà. Tina biết mình bị bệnh tim nhưng cô im
lặng, sợ rằng mình sẽ bị loại khỏi công việc cách mạng. Tina luôn sẵn sàng làm
những gì mà những người khác tránh – dọn dẹp phòng ốc, đi bộ đến nơi xa xôi nhất,
viết thư hoặc dịch bài suốt đêm. Trong Chiến tranh Tây Ban Nha, cô là một y tá
chăm sóc những người Cộng hòa bị thương.
Trong cuộc đời cô, khi cô là bạn gái của nhà cách mạng nổi tiếng người
Cuba Julio Antonio Mella, bị đày đến Mexico, một thảm kịch khủng khiếp đã xảy
ra. Bạo chúa của Cuba, Gerardo Machado, đã phái bọn cướp từ Havana, lệnh cho
chúng giết chết nhà lãnh đạo cách mạng của thanh niên. Và vào một buổi tối, khi
Mella tay trong tay với Tina Modotti rời rạp chiếu phim, chúng đã bắn anh ta bằng
một loạt đạn từ súng tiểu liên. Mella đã gục ngã. Tina cũng ngã xuống trong
vũng máu của người bạn bị sát hại. Trong khi đó, những kẻ ám sát có sự bao che
đã dễ dàng trốn thoát. Sau đó các quan chức cảnh sát bao che tội phạm đã đổ lỗi
cho Tina Modotti về vụ giết người.
Mười hai năm sau sức lực của Tina đã dần cạn kiệt và cô đã ra đi. Các
thế lực phản động của Mexico đã quay trở lại vu khống và tạo ra bầu không khí
bê bối xung quanh cái chết của cô, theo cách của ngày xưa khi họ muốn chứng
minh rằng cô có liên quan đến vụ giết Mella. Carlos và tôi ngồi im lặng bên
ngôi quan tài. Thật khó khăn chứng kiến người đàn ông mạnh mẽ và can đảm như vậy
phải chịu đựng như thế nào. Vết thương hở của anh đang bị gặm nhấm bởi chất độc
của những lời nói dối hèn hạ xấu xa về cái tên của Tina Modotti, giờ đã chết.
Chỉ huy trưởng Carlos nổi cơn thịnh nộ, đôi mắt anh ta bừng lên, và tôi, bất lực
trước nỗi đau của con người tràn ngập căn phòng, lặng lẽ nhìn tượng sáp Tina
trong một chiếc quan tài nhỏ.
Các trang báo được lấp đầy với những điều bịa đặt bẩn thỉu. Người ta gọi
Tina là “người phụ nữ bí ẩn đến từ Moscow”. Một số người nói thêm: “Cô ấy chết
vì biết quá nhiều”. Cảnh Carlos đau khổ dữ dội làm tôi quyết định viết một bài
thơ – một lời quở trách đối với những người đã làm hoen ố danh tiếng của Tina.
Tôi đã ngay lập tức gửi bài thơ đến tất cả các tờ báo với rất ít hy vọng rằng
nó sẽ được xuất bản. Nhưng thật là một phép màu! Ngày hôm sau, thay vì những tiết
lộ mới về vụ án như đã hứa ngày hôm trước, một bài thơ đầy phẫn nộ và đau
thương đã xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo.
Bài thơ có tựa đề “Tina Modotti đã chết”. Tôi đọc nó vào buổi sáng hôm
đó tại nghĩa trang của thủ đô Mexico, nơi chúng tôi mai táng Tina và nơi cô mãi
mãi nằm dưới một tảng đá granit của Mexico. Trên hòn đá đó khổ thơ của tôi được
khắc.
Kể từ đó, các tờ báo không đăng một dòng nào xúc phạm đến ký ức của
Tina Modotti nữa.
Tiếp đó là Lota nhiều năm về trước. Khoảng mười nghìn thợ mỏ đã tập
trung tại một cuộc biểu tình. Quảng trường chính của thành phố Plaza de Lota chứa
đầy những người khai thác than, nơi tình trạng bất ổn do nghèo đói gây ra. Các
diễn giả chính trị đã nói chuyện trong một thời gian dài. Mùi than và muối biển
bay lơ lửng trong không khí nóng bức giữa trưa. Gần đó là đại dương, và dưới độ
dày của nó trong hơn mười km trải dài một hành lang ảm đạm, nơi mọi người khai
thác than.
Bây giờ người ta đang lắng nghe bài phát biểu dưới ánh mặt trời chói mắt.
Từ một bục cao, một biển mũ đen và mũ bảo hiểm của thợ mỏ mở ra trước mắt tôi.
Tôi là người phát biểu sau cùng. Khi người ta nói rằng tôi sẽ đọc bài thơ “Bản
tình ca mới cho Stalingrad” của tôi thì có một điều gì đó tuyệt vời đã xảy ra,
một kiểu hành động nghi thức đã in sâu trong trí nhớ của tôi.
Ngay khi tên tôi và tên bài thơ của tôi được xướng lên thì muôn người
như một, lặng lẽ ngẩng cao đầu. Họ ngẩng cao đầu vì sau những bài diễn văn
chính trị khô khan thì đến lúc thơ ca phải lên tiếng. Từ cái bục cao, tôi thấy
mười ngàn bàn tay trồi lên và rơi xuống, theo một cuộn sóng chưa từng thấy, tiếng
thổi của biển lặng, bọt đen của sự tôn kính âm thầm.
Và khi đó những bài thơ của tôi trở nên mạnh mẽ hơn trong lời kêu gọi đấu
tranh và giải phóng, chúng đã tìm thấy một sức mạnh mới.
Điều này khác xảy ra với tôi trong những năm tuổi trẻ. Tôi là nhà thơ
như mọi nhà thơ sinh viên thời đó với chiếc áo khoác tối màu, gầy và suy dinh
dưỡng. Tôi vừa xuất bản cuốn “Hoàng hôn” và cân nặng không bằng một chiếc lông
con quạ.
Một lần, tôi và một số người bạn tôi đến một quán rượu với nhiều tiếng
xấu. Đó là một thời của những điệu tango và những cuộc ẩu chiến ồn ào. Đột
nhiên, âm nhạc dừng lại và tango tan vỡ như thủy tinh, bắn vào tường.
Ở giữa khu vực khiêu vũ có hai kẻ cãi lộn và chèo kéo nhau hét lên. Khi
một người đến gần người kia thì anh ta lùi lại và với anh ta, khán giả cuồng
nhiệt cố giấu anh ta trốn đằng sau những chiếc bàn bị lật. Tất cả trông giống
như một điệu nhảy của hai con thú nguyên thủy trong một khu rừng nguyên sinh.
Không chút do dự, tôi đã tiến một bước về phía trước và lên tiếng:
- Này, đồ khốn nạn, những con thú điên, hãy để mọi người đến đây được nhảy
múa lặng yên chứ không phải đến để xem trò hề của các người.
Họ nhìn nhau ngạc nhiên như thể không tin vào tai mình. Người thấp hơn
– trước khi trở thành một tên côn đồ, anh ta là một võ sĩ chuyên nghiệp – tiến
về phía tôi, rõ ràng có ý định đánh chết tôi. Chuyện sẽ xảy ra nếu anh ta không
ngã xuống sàn ngay lúc đó từ một cú đấm chính xác của đối thủ.
Khi nhà vô địch bị đánh bại, giống như một bịch khoai tây bị kéo ra khỏi
hội trường, từ nhiều bàn người ta gửi cho chúng tôi những chai rượu. Các vũ
công đã mỉm cười với chúng tôi. Một người cao lớn đã quay lại rằng anh ta đã
giáng đòn cuối cùng vào kẻ thù và quả quyết rằng anh ta cũng có quyền chia sẻ
niềm vui chiến thắng của chúng tôi. Nhưng tôi nói gay gắt:
- Cút khỏi đây ngay. Mày với nó cũng là một băng đảng cả.
Tuy nhiên, niềm vui của tôi không được lâu. Đi qua một hành lang hẹp,
chúng tôi đã thấy ở lối ra vào một số những người rất cao lớn chặn đường đi.
Trong số này tôi ngay lập tức nhận ra một người đã tham gia vào cuộc ẩu đả. Anh
ta chặn chúng tôi ở lối ra để trả thù.
- Tôi đang chờ bạn đấy – anh ta nói và đẩy tôi sang một bên. Những người
bạn đồng hành đã để tôi một mình với tên đao phủ. Tôi đã đưa mắt tìm kiếm để
tìm bất cứ thứ gì có thể tự bảo vệ mình. Không có gì cả. Tuyệt đối không có gì
– những phiến đá cẩm thạch hay khung bàn
bằng sắt thì không nhấc nổi. Dù chỉ là một cái bình nào đó, hoặc một cái chai,
hoặc một cây gậy bị bỏ quên. Không có gì cả...
- Chúng ta nói chuyện nhé? Anh ta hỏi.
Tôi nhận ra rằng tất cả những nỗ lực của tôi sẽ là vô ích. Anh ta nhìn
tôi giễu cợt và trông giống như một con hổ mà trước mặt là một con nai. Điều
quan trọng là không được tỏ ra sợ hãi, tôi cũng đẩy anh ta ra, nhưng anh ta
không hề nhúc nhích. Không phải là một người đàn ông, mà là một bức tường đá.
Đột nhiên anh ta quay đầu lại, và cơn thịnh nộ trong mắt anh ta biến mất.
- Anh có phải là nhà thơ Pablo Neruda không? Anh ta hỏi.
- Vâng, chính là tôi.
Anh ta cúi đầu và kêu lên:
- Ồ, tại sao tôi lại không may mắn! Gặp gỡ nhà thơ yêu dấu của tôi, để
anh ấy nói với tôi rằng tôi là một thằng ngốc!
Anh ta ôm đầu và nói vội vàng:
Tôi là một thằng khốn nạn thực sự và kẻ đánh nhau với tôi là một tên
buôn bán cocaine. Cả hai chúng tôi đều là những kẻ dưới đáy của xã hội. Trong
cuộc đời tôi chỉ có một điều tốt đẹp – đấy là cô người yêu của tôi và tình yêu
của cô ấy. Hãy nhìn xem, Don Pablito, đây là hình ảnh của cô ấy. Nếu tôi nói với
cô ấy rằng anh đã giữ bức ảnh này trong tay mình thì cô ấy sẽ hạnh phúc không
thể tả.
Anh ta đưa cho tôi bức hình của một cô gái đang cười.
- Cô ấy yêu tôi vì anh đấy, Don Pablito, vì những bài thơ của anh mà
chúng tôi nhớ thuộc lòng.
Và đột nhiên anh ta bắt đầu đọc:
Từ trong sâu thẳm nhìn vào mắt em
Những ước mơ chưa trở thành hiện
thực…
Ngay lúc đó, có tiếng cánh cửa xe bật mở và tôi thấy những người bạn của
mình xuất hiện. Tôi nhìn quanh những khuôn mặt sững sờ của họ và tôi từ từ bước
ra đường. Người đàn ông đó vẫn ở trong hành lang, và sau lưng tôi những lời thơ
lại vang lên:
Vì cuộc đời này mà ta đem hoà nhập
Cuộc đời của anh và của em.
Lần này anh ta bị thơ ca đánh bại.
Chiếc máy bay do phi công Powers điều khiển, bay với một nhiệm vụ gián
điệp trên đất Liên Xô, đã rơi từ một độ cao đáng kinh ngạc. Hai quả tên lửa đã
đánh gục anh ta từ những đám mây. Các nhà báo ngay lập tức chạy đến nơi xa xôi
khuất trong lòng núi, từ đó những phát súng chính xác được bắn ra.
Các xạ thủ là hai chàng trai cô đơn. Trong thế giới rộng lớn của cây
linh sam và tuyết, họ ăn táo, chơi cờ, chơi đàn phong cầm, họ đọc sách và luôn
cảnh giác. Họ nhắm bắn chính xác để bảo vệ bầu trời rộng lớn của quê hương Nga.
Người ta đã hỏi họ những câu hỏi:
- Bạn thích những đồ ăn gì? Bố mẹ của bạn là ai? Bạn có thích khiêu vũ
không? Bạn đọc những cuốn sách nào?
Trả lời câu hỏi cuối cùng này, một trong những người lính trả lời rằng
anh ta thích đọc thơ, và nói thêm rằng các nhà thơ yêu thích nhất của anh ta là
Pushkin và Pablo Neruda người Chilê.
Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi biết điều đó. Quả tên lửa kia đã bay
lên rất cao và đã khiến cho niềm kiêu hãnh giảm xuống rất thấp, theo một cách
nào đó là một nguyên tử của thơ ca luôn cháy bỏng trong tôi.
= =
Những tên riêng trong bài:
*Tina Modotti (1896 – 1942) – là nhiếp ảnh gia, người mẫu, diễn viên và
nhà hoạt động chính trị cách mạng người Ý
*Gerardo Machado (1871 – 1939) – Tổng thống Cuba từ năm 1925 đến năm
1933
*Pampa salitrera – là một vùng sa mạc ở phía bắc Chilê
*José Asunción Silva (1865 – 1896) – Nhà thơ Colombia
*Elías Lafertte (1886 – 1961) – Thủ lĩnh của Phong trào công nhân
Chilê, một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Chilê
*Julio Antonio Mella (1903 – 1929) – Nhà cách mạng Cuba, lãnh đạo phong
trào sinh viên, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Cuba
*Don Pablito – một cách gọi khác của Don Pablo
*Một số câu trong bài thơ “Farewell” của Pablo Neruda đã có bản dịch tiếng
Việt
Matilde Urrutia, vợ tôi
Vợ tôi là người tỉnh lẻ, giống như tôi. Cô sinh ra ở thành phố Chillán
phía nam Chile, nơi nổi tiếng với gốm sứ dân gian và nổi tiếng đau thương với
những trận động đất khủng khiếp. Tất cả những gì tôi có thể nói về Matilda đã
có trong cuốn sách của tôi: “Một trăm bài sonnet về tình yêu” (Cien sonetos de
amor). Có lẽ những bài thơ này đã thể hiện rằng nàng có ý nghĩa đối với tôi.
Trái đất và cuộc sống đã đưa chúng tôi đến với nhau.
Và mặc dù điều này ít được ai quan tâm – chúng tôi là những người hạnh
phúc. Một phần lớn thời gian chúng tôi đã sống trên bờ biển hoang vắng của
Chilê. Và không phải vào mùa hè khi vùng đất khô nắng chuyển sang màu vàng, như
trong sa mạc, mà vào mùa đông, khi mưa và lạnh, và trong những bông hoa lạ
lùng, mọi thứ đều có màu xanh lá cây và vàng, màu xanh và đỏ thẫm. Sau đó chúng
tôi chia tay đại dương hoang dã và cô đơn của mình để đi đến một thành phố bận
rộn –Santiago, nơi khó khăn cho cả hai chúng tôi, nơi chúng tôi tham gia vào cuộc
sống phức tạp của những người khác.
Matilde có một giọng hát khỏe và cô ấy hát những bài hát phổ theo những
bài thơ của tôi. Tôi dành cho cô ấy tất cả những gì tôi viết, và tất cả những
gì tôi có. Không thật nhiều, nhưng cô ấy hạnh phúc.
Bây giờ cô ấy đang ở trong vườn, và tôi thấy đôi giày nhỏ của cô ấy
chìm trong đất mềm. Và bây giờ bàn tay nhỏ bé của cô chìm sâu vào bụi cây mọc
um tùm. Từ mặt đất, mắt và giọng nói của nàng, tay và chân của nàng. Chúng mang
đến cho tôi tất cả những gốc rễ, tất cả những bông hoa, tất cả những cội nguồn
của niềm hạnh phúc.
Quasimodo
Vùng
đất Ý giữ trong lòng mẹ tiếng nói thuần khiết của các nhà thơ cổ đại. Khi tôi
đi qua đồng cỏ của nó, khi tôi lang thang qua các công viên của nó, nơi nước lấp
lánh, khi tôi đi dọc theo bờ cát của một đại dương nhỏ màu xanh, đối với tôi,
đó là vật chất nguyên thủy của kim cương, kho chứa bí mật của tinh thể – tất cả
sự tỏa sáng trong nhiều thế kỷ. Nước Ý đã mang lại hình thức thơ châu Âu, âm
thanh, sự tao nhã và xung lực; giải thoát thơ châu Âu khỏi sự đồng đều, khỏi sự
vụng về được bao phủ bởi áo giáp quân sự và áo choàng thô ráp. Ánh sáng của nước
Ý đã biến những rắc rối của những người hát rong và những dụng cụ bằng sắt của
sử thi anh hùng thành một dòng nước cao bằng kim cương đánh bóng.
Chúng
tôi, những nhà thơ chỉ mới làm quen với văn hóa chưa lâu, những nhà thơ đến từ
các quốc gia nơi các tuyển tập được mở ra bằng những bài thơ của thập niên tám
mươi của thế kỷ trước, đã bị ấn tượng bởi những ngày tháng trong các tập thơ Ý
– năm 1230, năm 1310, năm 1450, và trong số đó –, độ sâu và độ chính xác của thơ
Dante Alighieri, Cavalcanti, Petrarca, Poliziano.
Những
nhà thơ này đã ban tặng ánh sáng Firenze cho Garcilaso de la Vega dịu dàng và mạnh
mẽ của chúng ta, cho Boscan nhân từ, chiếu sáng cho Gongora, nhuốm màu u sầu cho
thơ của Quevedo, đúc khuôn cho thơ sonnet của Shakespeare và đốt lên nguồn cảm
hứng thơ mộng của nước Pháp, nơi hoa hồng của Ronsard và Du Bellay nở rộ. Nói
tóm lại, thật khó để trở thành một nhà thơ đối với một người sinh ra ở nước Ý –
anh ta là người thừa kế toàn bộ bầu hoàn vũ có những vì sao thơ chói sáng.
Tôi
đã biết Salvatore Quasimodo từ lâu và tôi có thể nói rằng thơ ông thấm nhuần ý
thức về bổn phận, dường như đối với chúng tôi là một ảo cảnh (phantasmagoria),
một gánh nặng lớn. Quasimodo là một người châu Âu, thực sự sở hữu kiến thức,
ý thức về mức độ cũng như toàn bộ kho trí tuệ của loài người. Và mặc dù ông, một
người Ý đến từ trung tâm nước Ý, trở thành nhân vật chính, người bảo vệ chủ
nghĩa cổ điển, ông đã không trở thành tù nhân của pháo đài chính mình.
Quasimodo
là một nhà thơ toàn diện, ông không phân chia thế giới thành Tây và Đông, ông
coi đó là nhiệm vụ cao nhất của một người hiện đại để xóa bỏ biên giới, sự phân
chia văn hóa thế giới, bảo vệ thơ ca, tự do, chân lý và niềm vui như là một phước
lành.
Ở
Quasimodo, màu sắc và âm thanh của một thế giới thanh thản u sầu hòa quyện vào
nhau. Nhưng nỗi buồn của ông không phải là sự nghi ngờ vô vọng của Leopardi, mà
là sự tập trung khẳng định cuộc sống của vùng đất buổi tối, sự tốt lành buổi tối
của thiên nhiên, khi tất cả mùi hương, giọng nói, màu sắc và tiếng chuông vang
lên bảo vệ những nỗ lực của những hạt giống gieo sâu nhất. Tôi yêu âm tiết tập
trung của nhà thơ vĩ đại này, sự nghiêm khắc cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn của
ông, tôi ngưỡng mộ sự độc đáo của ông trong sự chuyển động vĩnh cửu của cái đẹp,
và ông biết cách biến mọi thứ thành thơ ca chân thực và sâu sắc.
Tôi
giơ một vòng hoa lá thơm của Araucanía lên trên đại dương, trên khoảng cách
chia cắt chúng ta – hãy để nó được gió và cuộc sống đón nhận, hãy để nó trang
trí vầng trán của Salvatore Quasimodo. Đây không phải là vương miện nguyệt quế
Apollo mà chúng ta đã thấy hơn một lần trên những bức chân dung của Francesco
Petrarca. Vòng hoa này là một món quà của những khu rừng hoang vắng của chúng
tôi, nó được làm từ những chiếc lá không tên được rắc sương sớm của những buổi
bình minh Chilê.
= =
=
Chú
thích những tên riêng được nhắc đến trong bài viết:
*Guido
Cavalcanti (1259 – 1300) – Nhà thơ Ý
*Poliziano
(1454 – 1494) – Nhà thơ Ý
*Francesco
Petrarca (1304 – 1374) – Nhà thơ Ý
*Dante
Alighieri (1265 – 1321) – Nhà thơ Ý
*Garcilaso
de la Vega (1501 – 1536) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Juan
Boscán Almogáver (1490 – 1542) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Francisco
de Quevedo (1580 – 1645) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Luis
de Góngora (1561 – 1627) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Joachim
Du Bellay (1522 – 1560) – Nhà thơ Pháp
*Pierre
de Ronsard (1524 – 1585) – Nhà thơ Pháp
*William
Shakespeare (1564- 1616) – Nhà thơ Anh
*Giacomo
Leopardi (1798 – 1837) – Nhà thơ Ý
Gabriela Mistral
Tôi đã nói rằng tôi đã làm quen với Gabriela Mistral ở thành phố Temuco
quê hương của tôi. Gabriela đã chia tay mãi mãi với thành phố này. Khi tôi nhìn
thấy chị lần đầu tiên, Gabriela đã đi được nửa cuộc đời gian khổ của mình và vẻ
ngoài trông giống như một nữ tu hành với một trật tự nghiêm ngặt.
Ở thành phố Temuco của chúng tôi, chị đã viết trường ca về đứa con trai
của mình. Chị viết bằng một thứ văn xuôi có vần điệu tinh tế và cảm động của
thơ ca. Trong trường ca về đứa con trai, chị, một người phụ nữ chưa bao giờ lập
gia đình, nói về việc mang thai, sinh con, về sự chăm sóc con của người mẹ. Thế
là khắp thành phố rộ lên những tin đồn rằng có một cái gì đó vô lý, ngây thơ và
thô lỗ, và có lẽ, chị đã bị tổn thương bởi những điều thị phi của cư dân
Temuco, – tôi biết những kẻ ngổ ngáo, xấc xược bằng ngôn ngữ của những người đốn
gỗ và những công nhân đường sắt gọi bánh mì là bánh mì và rượu vang là rượu
vang.
Gabriela bị xúc phạm và chị đã không quên sự xúc phạm này cho đến ngày
xuống mộ.
Nhiều năm sau chị đã viết lời giới thiệu cho lần in đầu của một cuốn
sách, trong đó có nhắc đến những gì người ta đã nói về chị, những gì người ta
đã xì xào ở vùng đồi núi bên mép rìa của thế giới.
Khi Gabriela Mistral đăng quang với giải Nobel, trở về từ châu Âu, chị
phải đi qua Temuco. Mỗi ngày có nhiều trường học ra chờ đón chị. Các em học
sinh đội mưa đi ra nhà ga ôm những bó Copihue (hoa chuông) ướt run rẩy. Copihue
là loài hoa của miền nam Chile, loài hoa đẹp và hoang dã của vùng đất Araucanía
bất khuất. Nhưng mọi sự chờ đợi đã vô ích. Gabriela đi qua thành phố vào ban
đêm, chị đã chọn chuyến tàu thường chỉ để không phải nhận hoa của Temuco.
Tất cả là như vậy. Nhưng liệu điều này có phải là nói xấu về Gabriela
Mistral? Tuyệt nhiên không. Điều này cho thấy rằng có những vết thương trong
sâu thẳm của tâm hồn nữ thi sĩ không thể chữa lành, không thể thành sẹo. Điều
này nói rằng trong tâm hồn của nữ thi sĩ lớn có một sự đối lập như trong tất cả
tâm hồn của mọi con người – thương và giận.
Đối với tôi Gabriela luôn luôn có một nụ cười rộng mở thân thiện – hàm
răng trắng, hệt như một vệt đau khổ trên gương mặt, như chiếc bánh mì đen.
Thứ kim loại quí là như vậy, những hợp chất nào được nung chảy trong lò
sáng tạo của chị? Giọng thơ đau buồn của chị được sinh ra từ những bí ẩn nào?
Tôi sẽ không đi tìm câu trả lời, vì tin chắc là sẽ không tìm thấy nó,
mà giá như tìm thấy, tôi sẽ không nói về điều này.
Tháng chín lại về và hoa Hues lại nở. Cả mặt đất như được phủ những gợn
sóng màu vàng. Còn trên bờ đại dương suốt bốn ngày đêm cơn gió nam không ngừng
cơn thịnh nộ. Đại dương trải một màu thủy tinh xanh và màu titan trắng xóa.
Chị hãy đến với chúng tôi, Gabriela, người con gái thân yêu của những
nàng Hues Chile, của những bờ vách đá, của những ngọn gió đại dương. Chúng tôi
sẽ đón chào chị với niềm vui sướng hân hoan. Sẽ không một ai quên những dòng
thơ của chị đã ngợi ca những bụi cây gai và tuyết của Chilê. Chị là người con
gái của Chilê. Chị thuộc về nhân dân. Sẽ không ai quên những dòng thơ của chị về
những cậu bé chân trần. Không một ai quên “Lời nguyền” của chị. Chị luôn luôn bảo
vệ thế giới. Vì điều này và vì những điều khác nữa mà chúng tôi yêu mến chị.
Chị hãy quay về với những bụi gai của Tổ quốc Chilê yêu thương. Và tôi
chào đón chị bằng những lời tốt đẹp, những lời sự thật, những lời khắc nghiệt
và nở hoa, tương xứng với sự vĩ đại của một giọng thơ và với tình cảm không
cách biệt giữa chúng ta. Những chiếc cổng chào được xây bằng đá và được kết bằng
hoa sẽ cúi mình chào đón chị. Và con tim này sẽ không có gì thân thiết hơn khi
được nhìn nụ cười rộng mở của chị với đất đai quê hương, nơi vẫn hát ca và nở
hoa tươi tốt, một khi nhân dân mình còn gieo trồng trên đó.
Tôi xin chia sẻ với chị cái bản chất và sự thật được kính trọng nhờ giọng
nói và công việc của chúng ta. Xin hãy để con tim kỳ diệu của chị yên giấc
nghìn thu, con tim này vẫn sống, vẫn đấu tranh và sáng tạo trên mảnh đất mà dãy
Andes và đại dương ngăn cách khỏi thế giới. Xin hôn lên vầng trán cao thượng và
cúi mình trước nguồn thơ vô tận của chị.
_______________
*Copihue – là tên gọi loài hoa từ một truyền thuyết cảm động về đôi
tình nhân: Copih và Hues. Copihue (tên khoa học: Lapageria rosea) là Quốc hoa của
Chilê.
Những kẻ thù văn học của tôi
Tôi nghĩ rằng những xung đột, cả lớn và nhỏ, đã xảy ra và sẽ tiếp tục xảy
ra giữa các nhà văn ở tất cả các nơi trên thế giới.
Lịch sử văn học trên trái đất của chúng ta có rất nhiều vụ tự tử. Ở nước
Nga cách mạng, Mayakovsky tự bắn mình, ông bị đầu độc bởi những người ghen tị.
Những cuộc giao tranh văn học nhỏ nhặt leo thang trên vùng đất Mỹ
Latinh thành sự thù địch không thể hòa giải. Và sự đố kị thường trở thành một
nghề. Người ta nói rằng cảm giác này được chúng ta thừa hưởng từ thời thuộc địa
của Tây Ban Nha. Chúng ta thường tìm thấy ở Quevedo, Lope và Gongora những vết
thương mà họ gây ra cho nhau. Thời đại hoàng kim với sự trỗi dậy tuyệt vời của
trí tuệ con người là một thời đại bất hạnh, nạn đói đang lang thang khắp các
cung điện của nó.
Trong những năm gần đây, tiểu thuyết Mỹ Latinh đã đạt được những chiều
kích mới. Ở mọi nơi và mọi nơi chúng ta gặp tên của Gabriel García Márquez,
Juan Rulfo, Vargas Llosa, Ernesto Sabato, Julio Cortazar, Carlos Fuentes, nhà
văn người Chile Jose Donoso. Thành công của họ được mệnh danh là “sự bùng nổ của
Mỹ Latinh”. Nhưng một số người nói rằng những nhà văn này đang tham gia vào việc
tự quảng cáo.
Tôi quen với hầu hết tất cả các nhà văn này, và theo tôi, tất cả họ đều
trở nên khác biệt bằng sự khỏe mạnh và sự hào phóng tâm hồn. Càng ngày tôi càng
cảm thấy rõ ràng hơn rằng một số người trong số họ phải rời bỏ quê hương để làm
việc lặng lẽ, tránh xa xung đột chính trị và sự ghen tị. Những nhà văn này đã
làm đúng: ở vùng đất xa lạ, họ đã viết ra những cuốn sách hay và cần thiết nhất
về sự thật và giấc mơ của châu Mỹ chúng ta.
Tôi không dám nói ngay về những va chạm của mình với sự ghen tị cực độ
của con người. Tôi sẽ không muốn giống như một kẻ ích kỷ tự ái, chỉ tập trung
vào chính mình. Tuy nhiên, tôi đã gặp rất nhiều những kẻ như vậy, những người
ghen tị đầy màu sắc như vậy, rằng việc giữ im lặng là một tội lỗi.
Từng xảy ra rằng những người ghen tị rất tức giận với tôi. Mặc dù trên
thực tế, dù chính họ không muốn, đã tham gia tuyên truyền những bài thơ của tôi
như thể họ phục vụ trong văn phòng quảng cáo cho tên tuổi của tôi.
Cái chết bi thảm của một trong những kẻ thù đen tối nhất của tôi đã tạo
ra một khoảng trống trong cuộc đời tôi. Người đàn ông này đã chiến đấu với tôi vì
bất kỳ lý do gì, và khi mọi thứ tan vỡ, tôi đã chán nản vô cùng.
Cuộc chiến tranh văn học bốn mươi năm là một trường hợp đặc biệt. Và
tôi, không phải không có sự hài lòng, cam kết khôi phục các chi tiết của trận
chiến mà con người tiến hành chống lại cái bóng của chính mình, vì tôi đã không
tham gia bất kỳ phần nào trong đó.
Kẻ thù của tôi đã thành lập hai mươi lăm tạp chí (anh ta là biên tập
viên thường trực của các tạp chí này) chỉ để tiêu diệt tôi như một nhà thơ, để
buộc tôi tôi về tội phản quốc, tội đạo văn, đồi trụy tình dục. Với lòng nhiệt
thành đáng ghen tị, anh ta đã phát hành nhiều bài phóng sự cùng với sự hài hước.
Cuối cùng, cuốn sách “Neruda và tôi” của anh ta xuất hiện, đầy những lời lăng mạ
và chửi rủa vào địa chỉ của tôi.
Đối thủ của tôi, một nhà thơ người Chilê lớn tuổi hơn tôi, là một người
cực kỳ bướng bỉnh và kiên quyết, có khả năng về cử chỉ hơn là một thứ gì đó sâu
sắc, xứng đáng. Có rất nhiều nhà văn như vậy, dữ dội, tự ái, ích kỷ, họ có đầy ở
lục địa của chúng ta. Sự tự mãn và tàn nhẫn của họ được thể hiện theo những
cách khác nhau, nhưng trong mỗi trường hợp đều có mối quan hệ họ hàng với
D'Annunzio.
Ở những vùng đất nghèo khó, chúng tôi, những nhà thơ đói khát và rách
rưới lang thang trong những buổi bình minh tàn nhẫn, giữa những cơn nôn của những
người say rượu. Trong tình trạng khốn khổ này, văn học đã sinh ra những kẻ gian
đáng kinh ngạc nhất, đưa vào cuộc sống những bóng ma của một cuốn tiểu thuyết lừa
đảo. Chủ nghĩa hư vô không kiềm chế, sự hoài nghi sai lầm của Nietzsche khiến
nhiều người trong chúng ta phải che đậy bằng cái mặt nạ hình sự. Đối với nhiều
người hóa ra đây lại là con đường ngắn nhất dẫn đến tội ác, đến sự hủy diệt
chính bản thân mình.
Chính trong môi trường này, đối thủ huyền thoại của tôi đã nảy sinh.
Lúc đầu, anh ta nịnh hót tôi, cố lôi kéo tôi vào trò chơi của anh ta. Nhưng với
tôi, một kẻ tiểu tư sản tỉnh lẻ, nó không hợp với ý thích của tôi. Tôi không
dám, và quan trọng nhất là không muốn lừa dối. Và nhân vật của chúng tôi biết
cách nắm bắt cơ hội và biết tất cả các đường đi. Anh ta sống trong một thế giới
của những trò hề liên tục, liên tục lừa dối bản thân, phát minh ra sự đe dọa để
phục vụ anh ta như một nghề nghiệp và sự bảo vệ.
Đã đến lúc gọi tên nhân vật của chúng ta, anh ta tên là Perico de
Palothes. Anh ta là một người đàn ông mạnh mẽ, cố gắng gây ấn tượng bằng tài
hùng biện và ngoại hình của mình. Khi tôi mới mười tám hoặc mười chín tuổi gì đấy,
anh ta muốn xuất bản với tôi một tạp chí văn học gồm hai phần. Trong phần một,
Perico, bằng mọi cách – với những bài
thơ và văn xuôi – sẽ khăng khăng rằng tôi là một nhà thơ vĩ đại và thiên tài,
và ở phần khác khác tôi sẽ ca ngợi với cả thế giới rằng anh ta là một người có
trí tuệ, một tài năng văn học. Nói một cách dễ hiểu, mọi thứ sẽ diễn ra theo
cách tốt nhất có thể.
Mặc dù tôi còn trẻ nhưng dự án đó có vẻ quá mức. Tuy nhiên, thật khó để
can ngăn anh ta. Palothes là một người xuất bản cừ khôi. Thật đáng kinh ngạc
khi thấy cách anh ta tìm kiếm nguồn tài chính để tạo ra sự nổi tiếng cho mình.
Perico đã hoạt động ở một tỉnh xa theo một kế hoạch được phát triển rõ
ràng. Một danh sách dài đã được chuẩn bị trước, bao gồm các bác sĩ, luật sư,
nha sĩ, nhà nông học, giáo viên, kỹ sư, chính quyền địa phương và những người
khác. Palothes trình bày cho họ trong vầng hào quang của những cuốn sách anh ta
viết, các tạp chí do anh ta xuất bản và các tuyển tập tác phẩm. Những người thiếu
kinh nghiệm đã xem anh ta như một sứ giả của văn hóa thế giới và tự coi mình là
người hãnh diện khi chấp nhận lời đề nghị khiêm tốn của anh ta. Dưới áp lực của
tài hùng biện, mỗi nạn nhân mà anh ta chọn đều cảm thấy như một bà mẹ khốn khổ.
Và như thường lệ, Palothes đã ra về với một số tiền, mang lại niềm vui cho nhiều
người khi họ được tham gia vào văn hóa thế giới.
Đôi khi Perico de Palothes xuất hiện ở các vùng phía nam Chilê với tư
cách là một chuyên gia về quảng cáo nông nghiệp và mời những chủ đất sống trong
rừng để xuất bản những ấn phẩm đầy màu sắc về tài sản của họ với những bức ảnh
in hình những bầy súc vật và chính chủ sở hữu của chúng. Một trong những trang
phục đáng giá của anh ta là gì – quần dài cao đến đầu gối, giày cao cổ và một
chiếc áo choàng rất kỳ dị. Sự nịnh hót đó, và thậm chí là mối đe dọa xuất bản
thứ gì đó làm mất uy tín, Perico luôn thành công và ra về với một tấm séc trong
túi. Các chủ đất – những người keo kiệt nhưng luôn tỉnh táo, thực dụng – đã vội
vàng dúi cho anh ta một ít tiền để thoát khỏi anh ta càng sớm càng tốt.
Sự khao khát tội ác cả trong văn học lẫn trong cuộc sống có lẽ là điều
chính đặc trưng cho người đàn ông này, một người chịu ảnh hưởng Nietzsche và một
kẻ nghiện viết lách thái quá. Perico de Palothes, kẻ háo danh và khoác lác,
trong một thời gian dài đã có sự thành công nhỏ từ một số người nghèo, những
người đã tôn vinh anh ta bằng mọi cách có thể. Nhưng cuộc sống thường đối xử
tàn nhẫn với những người thích chơi trò mạo hiểm.
Tôi đã do dự một thời gian dài, phân vân khi viết ra những dòng này, lý
do cho điều này là kết thúc bi thảm của kẻ thù của tôi: anh ta đã tự tử. Nhưng,
tuân theo mệnh lệnh của thời gian và nơi chốn, tôi vẫn viết về nó. Một dãy núi
của sự thù hận cắt qua các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha. Sự ghen tị dai dẳng
ăn mòn cuộc đời của các nhà văn. Chỉ có một cách để chấm dứt cơn thịnh nộ hủy
diệt này là phơi bày sự thất bại của nó ra trước ánh sáng.
Một chiến dịch văn học và chính trị mà một người Uruguay nào đó có tiếng
tăm lừng lẫy với tên họ Ribeiro đã phát động chống lại tôi và các sáng tác của
tôi cũng điên cuồng không kém. Chủ đề này đã được các bài báo bằng tiếng Tây
Ban Nha và tiếng Pháp xuất bản trong nhiều năm, không còn gì nữa cho tôi. Thật
đáng kinh ngạc là khi trong các hoạt động chống Neruda của mình, anh ta không
chỉ tốn kém hàng tấn giấy in, không hề rẻ cho anh ta, mà anh ta còn chi cho những
chuyến đi xa đắt tiền để tiêu diệt tôi theo cách tàn nhẫn nhất.
Ít ai biết rằng Đại học Oxford đã trao cho tôi danh hiệu “Tiến sĩ danh
dự” (Doctor honoris causa) khi loại hình vinh danh kỳ lạ này lại có ở nước Anh.
Nhà thơ người Uruguay, người đã đưa ra những lời buộc tội chống lại tôi, quyết
định đối phó với tôi ngay trong trường đại học này. Các ngài giáo sư đáng kính
đã cười vui vẻ trước những lời buộc tội nực cười của người Uruguay, và ngay sau
buổi lễ, vẫn mặc quần áo đỏ tươi, tôi đã uống một ly rượu vang truyền thống với
họ.
Một cuộc phiêu lưu thậm chí còn lớn hơn là chuyến đi của anh ta đến Stockholm
vào năm 1963. Có tin đồn rằng tôi sẽ được trao giải thưởng Nobel, và người
Uruguay không biết mệt mỏi đã đến gặp tất cả các thành viên của Viện Hàn lâm Thụy
Điển, trả lời phỏng vấn các tờ báo Thụy Điển và tuyên bố trên đài phát thanh rằng
tôi là một trong những kẻ đã ám sát Trotsky. Anh ta đã dùng mọi cách để chứng
minh rằng tôi hoàn toàn không xứng đáng được nhận giải thưởng cao quý như vậy.
Theo thời gian, người ta thấy rõ rằng người đàn ông này đã rất xui xẻo:
anh ta đã lãng phí tiền bạc và sức lực của mình cả ở Oxford và ở Stockholm.
= =
Chú thích những tên riêng được nhắc đến trong bài viết:
*Vladimir Mayakovsky (1893 – 1930) – Nhà thơ Nga Xô Viết
*Francisco de Quevedo (1580 – 1645) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Luis de Góngora (1561 – 1627) – Nhà thơ Tây Ban Nha
*Juan Rulfo (1917 – 1986) – Nhà văn Mexico
*Mario Vargas Llosa (1936) – Nhà văn Peru, giải Nobel Văn học năm 2010
*Ernesto Sabato (1911 – 2011) – Nhà văn Argentina
*Julio Cortázar (1914 – 1984) – Nhà thơ, Nhà văn Argentina
*Carlos Fuentes (1928 – 2012) – Nhà văn Mexico
*José Donoso (1924 – 1996) – Nhà văn Chilê
*Gabriele D'Annunzio (1863 – 1938) – Nhà văn, nhà thơ Ý.
*Friedrich Nietzsche (1844 – 1900) – Nhà triết học Đức
*Lope de Vega (1562 – 1635) – Nhà soạn kịch, nhà thơ Tây Ban Nha
*Lev Davidovich Trotsky (1879 – 1940) – Nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng
sản Liên Xô bị ám sát tại Mexico.
Giải thưởng Nobel
Giải thưởng Nobel của tôi có một lịch sử lâu dài. Trong nhiều năm, tên
của tôi đã được gọi trong số các ứng cử viên cho giải thưởng, nhưng nó không dẫn
đến điều gì.
Năm 1963, mọi thứ nghiêm trọng hơn nhiều. Một vài lần người ta thông
báo trên đài phát thanh rằng ứng cử viên của tôi đang được thảo luận ở
Stockholm và rằng tôi là ứng cử viên có khả năng nhất cho giải thưởng Nobel. Khi
đó Matilde và tôi áp dụng kế hoạch số 3 về phòng thủ ở nhà. Chúng tôi treo một ổ
khóa rất lớn ngoài cổng, dự trữ rất nhiều đồ ăn và rượu vang đỏ trong nhà. Tôi
có một số cuốn tiểu thuyết trinh thám của Simenon cho trường hợp ở ẩn của chúng
tôi.
Các nhà báo xuất hiện ngay sau đó nhưng họ đã phải dừng lại. Họ đã bị
ngăn chặn bởi một ổ khóa bằng đồng tuyệt vời. Họ đi vòng gần hàng rào đá, giống
như những con báo đốm. Họ hy vọng điều gì? Tôi đã có thể nói gì với họ về các
cuộc tranh luận được dẫn dắt bởi các học giả Thụy Điển ở phía đầu kia của thế
giới? Nhưng các nhà báo đã không từ bỏ hy vọng “vắt nước từ cây gậy khô”.
Mùa xuân đến muộn trên bờ biển Nam Thái Bình Dương. Những ngày vắng vẻ
đã đưa tôi đến gần hơn với mùa xuân, dù muộn màng, trong trang phục tốt nhất của
mùa xuân cho kỳ nghỉ vắng vẻ của mình. Rồi mùa hè không có một cơn mưa nào, đất
cằn cỗi, không còn nhìn thấy một bãi cỏ xanh. Mùa đông, gió biển trút cơn giận
dữ và bọt mặn vào những con sóng lớn. Mùa đông, thiên nhiên phô bày sự đau khổ của
mình – nạn nhân của thời tiết dữ dằn, khắc nghiệt.
Mùa xuân cần mẫn khoác lên vỏ trái đất một màu vàng của vô số hoa. Nhỏ
bé và không thể cưỡng lại, chúng quây quanh những vách đá rồi theo bờ dốc chúng
tiếp cận mặt nước và bất chấp mọi thách thức, chúng bảo vệ quyền tồn tại, chuyển
sang màu vàng rộm giữa những con đường. Bao nhiêu thời gian những bông hoa này
đã sống một cuộc đời bí mật, bao nhiêu thời gian chúng bị vùng đất cằn cỗi từ
chối, bây giờ chúng không biết làm thế nào để giữ cho màu vàng của chúng mãi rộng
ra.
Nhưng sau đó, những bông hoa bắt đầu mờ dần, mờ dần và mọi thứ chuyển
sang màu tím đậm. Mặt trời màu vàng của mùa xuân chuyển sang màu xanh và sau đó
thành đỏ thẫm. Tại sao những cành hoa nhỏ bé, không thể đếm hết này lại nhường
chỗ cho nhau? Hôm nay, một số màu sắc lóe lên trong gió, ngày mai lại những màu
sắc khác. Như thể trên những ngọn đồi hoang vắng, những lá cờ có chủ quyền của
Mùa xuân đang được thay thế, như thể đội quân xâm lược vội vàng giương cờ chiến
trận.
Lúc này, xương rồng nở trên bờ biển. Nhỏ, tròn, trông chúng không giống
như những cây xương rồng khổng lồ trên những ngọn núi xa xôi của dãy Andes. Tôi
nhìn thấy xương rồng ven biển trong những nụ đỏ tươi, như thể bàn tay của ai đó
đã tưới chúng bằng dòng máu hy sinh nóng bỏng. Sau đó, những nụ hoa mở ra, và
hàng ngàn bông hoa màu đỏ thẫm cháy trên phông nền của những dốc biển khổng lồ
phủ đầy bọt trắng.
Cây thùa trong vườn của tôi đã ném một bông hoa sát thủ từ ruột của nó.
Trong vòng mười năm cái cây có màu xanh vàng này đã phát triển cao hơn tôi. Bây
giờ nó đã nở hoa để chết. Ngọn giáo xanh mạnh mẽ của nó – cao bảy mét – bị chặn
lại ở một vài nơi bởi những vòng hoa khô, đôi chỗ phủ bằng phấn hoa vàng. Sau
đó, những chiếc lá khổng lồ sẽ bắt đầu gãy và cây thùa sẽ chết.
Bên cạnh cây thùa sắp chết, một cây khổng lồ khác đang được sinh ra.
Cây này không hề có ở nước ngoài. Nó chỉ mọc ở đây, trên bờ biển phía nam của
chúng tôi. Tên của nó là cây ăn thịt cừu (puya chilensis). Ngày xưa người
Araucania tôn thờ cây ăn thịt cừu này. Từ lâu đã không còn những người
Araucania dũng cảm – máu, cái chết, thời gian và rồi thiên sử thi của Alonso de
Ercilla đã khép lại lịch sử của một bộ lạc cổ xưa có màu đất sét đen, từng tỉnh
dậy từ một giấc mơ địa chất để bảo vệ quê hương mình. Khi tôi nhìn lại những
bông hoa trỗi dậy qua nhiều thế kỷ của những cái chết đen tối không rõ, trên những
lớp lãng quên nặng nề thấm đẫm máu, tôi ngỡ như quá khứ của vùng đất này đang nở
rộ, nở rộ bất chấp những gì chúng ta đang có và ngày nay chúng ta đã trở thành.
Chỉ có trái đất vẫn là chính mình, vẫn giữ bản chất của nó.
Nhưng tôi quên mô tả về cây này.
Nó có những chiếc lá lởm chởm sắc nhọn, và nó thuộc họ dứa. Cây mọc hai
bên đường như một ngọn lửa xanh, tích hợp bên trong mình những thanh kiếm bí ẩn
trong lõi của viên ngọc lục bảo. Rồi từ đó sinh ra một bông hoa khổng lồ, một
bó, một bông hồng xanh có kích thước của một người đàn ông. Hàng trăm hoa hồng
nhỏ được hợp nhất lại trong bông hoa cô đơn này, ngôi đền xanh này trong phấn
hoa vàng, tỏa sáng trong ánh phản chiếu tươi sáng của biển. Không nơi nào tôi
thấy một bông hoa xanh khổng lồ như vậy, trông giống như một tượng đài cô đơn của
sóng biển.
Nông dân và ngư dân ở đất nước tôi từ lâu đã quên tên của nhiều loài
hoa nhỏ. Tên của những bông hoa này dần dần phai mờ trong ký ức của con người
và chúng không còn tự hào về bản thân, chúng ẩn mình trong những đám cỏ, giống
như những viên đá mà các dòng sông mang từ đỉnh núi tuyết đến các bờ biển vô định.
Nông dân và ngư dân, thợ mỏ và nhà buôn của chúng tôi bị kết án với số phận khắc
nghiệt của mình, họ sẵn sàng chịu thất bại, sẵn sàng chết và hồi sinh những
công việc khó khăn của họ. Số phận của những anh hùng trên những vùng đất chưa
được khám phá vẫn chưa được biết đến. Trong chính họ, trong các bài hát của họ
chỉ tỏa ra hồi quang của dòng máu không tên, sự rạng rỡ của những bông hoa
không có tên.
Khu vườn của tôi có nhiều một trong những loài hoa như vậy – loài hoa
có màu xanh, thân cây dài, mảnh, bóng và chắc. Ở phần cuối của thân cây run rẩy,
rất nhiều loại hoa màu xanh lam và siêu xanh lắc lư. Tôi không biết những người
phàm nào khác được phép nhìn thấy một màu xanh hoàn hảo như vậy. Có thể nó chỉ
mở ra cho một số ít? Và nó sẽ vẫn vô hình với những người mà vị thần màu xanh
không muốn xuất hiện? Và đột nhiên lý do cho tất cả mọi thứ là niềm vui của
tôi, sinh ra từ sự cô đơn và ý thức tự hào rằng tôi đã có một cuộc gặp gỡ với
màu xanh này, với những con sóng màu xanh này, với một ngôi sao màu xanh trong
mùa xuân vắng vẻ đó?
Cuối cùng, tôi sẽ nói về bến cảng. Tôi không biết những bông hoa này vẫn
mọc ở đâu. Hàng triệu ngón tay hình tam giác xanh đào vào bờ cát. Mùa xuân kết
hợp chúng với những chiếc nhẫn rau dền có vẻ đẹp chưa từng thấy. Vào những ngày
cuối xuân, cả làng Isla Negra đều tỏa sáng với những bông hoa này, chúng có tên
bằng tiếng Hy Lạp là aizoaceae (họ phiên hạnh). Chúng văng lên bờ bằng cuộc xâm
lấn của biển, món quà hào phóng của một hang động xanh dưới nước, thứ nước ép của
các cụm màu tím được lưu giữ trong các tầng hầm của Hải Vương.
Vào lúc này trên đài phát thanh người ta thông báo rằng nhà thơ Hy Lạp
đã được trao giải Nobel. Các nhà báo lập tức biến mất. Sự yên lặng đã trở lại với
tôi và Matilde. Chúng tôi long trọng gỡ ổ khóa lớn ra khỏi cổng cũ, để cả thế
giới lại sẽ bước vào nhà chúng tôi mà không cần gõ cửa, không báo trước. Như
mùa xuân vậy.
Buổi tối, Ngài đại sứ Thụy Điển và vợ đã đến thăm chúng tôi. Tin rằng
tôi sẽ trở thành người được giải Nobel, họ đã mang theo cả một giỏ rượu và những
món đặc sản để ăn mừng chiến thắng của tôi. Bữa tối của chúng tôi không buồn một
chút nào và chúng tôi đã uống ly rượu mừng cho nhà thơ Hy Lạp Seferis, người vừa
được trao giải thưởng cao quí. Trước khi ra về, vị đại sứ đã kéo tôi sang một
bên và nói:
-Tất nhiên rồi các nhà báo sẽ phỏng vấn tôi mà tôi thì không biết gì về
điều này. Ngài làm ơn nói cho tôi biết Seferis là ai?
-Tôi cũng không biết – tôi trả lời rất chân thành.
Thành thật mà nói, bất kỳ nhà văn nào trên hành tinh của chúng ta được
gọi là Trái đất đều muốn được nhận giải Nobel – cả những người im lặng về điều
này và cả những người phủ nhận điều này.
Đối với Mỹ Latinh thì các quốc gia đều có các ứng cử viên, chiến thuật
và kế hoạch riêng của mình để đạt được giải thưởng. Vì lý do này mà những người
xứng đáng không nhận được giải thưởng. Ví dụ, Rómulo Gallegos. Di sản sáng tạo
rộng lớn của ông là rất đáng nể. Nhưng Venezuela là đất nước của dầu mỏ, nói
cách khác, một đất nước có đồng tiền mạnh, và với sự giúp đỡ của nó, người
Venezuela đã quyết định tìm kiếm một giải thưởng. Một trong những đại sứ
Venezuela ở Thụy Điển đã coi nhiệm vụ chính của mình là biến Rómulo Gallegos trở
thành người được giải thưởng Nobel. Ông đã tổ chức các buổi tiệc tùng xa hoa, in
các tác phẩm của các học giả Thụy Điển với các bản dịch sang tiếng Tây Ban Nha
trong các nhà in ở Stockholm. Có lẽ sự nhanh nhẹn như vậy khiến người Thụy Điển
kiềm chế và thận trọng. Rómulo Gallegos có lẽ không bao giờ phát hiện ra rằng sự
nhiệt tình quá mức của đại sứ Venezuela đã ngăn cản ông nhận giải thưởng Văn học
mà ông hoàn toàn xứng đáng.
Ở Paris, tôi không nhớ vì lý do gì, người ta kể cho tôi nghe một câu
chuyện buồn với một sự hài hước tàn nhẫn. Lần này là Paul Valéry. Ông được nói
đến như là ứng cử viên có khả năng nhận giải Nobel cao nhất. Và rồi sáng hôm
đó, khi Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, Paul Valéry muốn
giữ sự bình tĩnh cho mình, đã gọi con chó và lấy cây gậy rời khỏi ngôi nhà ngoại
ô để đi dạo.
Ông chỉ trở về vào buổi trưa để ăn trưa. Ngay khi vừa mở cửa, ông liền
hỏi cô thư ký:
- Không có ai gọi cho tôi hả?
- Có, thưa ông. Vài phút trước có cuộc gọi từ Stockholm.
- Và họ đã nói gì với cô? Ông hỏi lại, không giấu được niềm vui.
- Một nữ nhà báo Thụy Điển quan tâm đến thái độ của ông về phong trào giải
phóng phụ nữ.
Chính Valéry đã nói về điều này với sự mỉa mai nhẹ nhàng. Nhưng quả thật
là như vậy, nhà thơ xuất sắc người Pháp, một bậc thầy đạt đến sự hoàn hảo đã
không bao giờ được nhận giải Nobel.
Đối với tôi, người ta không thể không thừa nhận rằng tôi là người luôn
thận trọng. Trong cuốn sách của một học giả người Chilê, người đã lên kế hoạch
tôn vinh Gabriela Mistral, người đồng hương nghiêm khắc của chúng tôi, tôi đã đọc
nhiều lá thư gửi đến những nơi khác nhau. Với tất cả sự kiềm chế cao quý, chị ấy
đã ôm ấp một mong muốn hoàn toàn tự nhiên là tiếp cận giải thưởng Nobel. Những
lá thư này dạy tôi thận trọng. Vì tên của tôi bắt đầu được gọi trong số các ứng
cử viên (điều này không chỉ một lần), tôi đã không đến Thụy Điển, mặc dù tôi đã
bị cuốn hút bởi tuổi trẻ của mình khi Tomás Lago và tôi tự hào gọi mình là những
sinh viên bị trục xuất khỏi nhà thờ của mục sư, một người say rượu tên là Gosta
Berling.
Ngoài ra, tôi đã chán ngấy việc người ta vẫn cứ xướng tên tôi trong số các
ứng cử viên gần như hằng năm. Điều đó làm tôi bực mình vì trong những cuộc xét
chọn thường niên này, tên của tôi được người ta sử dụng như thể tôi là một con
ngựa đua. Mặt khác, các nhà văn Chilê vẫn tin rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển đã gây
ra một sự xúc phạm cá nhân đối với họ. Nói một cách dễ hiểu, trong một tình huống
như vậy, rất dễ bị rơi vào cảnh buồn cười và khó xử.
Cuối cùng, như mọi người đều đã biết, năm 1971 tôi đã được trao giải
Nobel. Tôi vừa đến Paris với tư cách là Đại sứ Chilê, khi tên tôi lại xuất hiện
trên báo. Matilde và tôi không vui chút nào. Thói quen thất vọng hàng năm khiến
chúng tôi không nhạy cảm với mọi thứ liên quan đến giải thưởng này. Một buổi tối
tháng 10, Jorge Edward, cố vấn văn hóa của Đại sứ quán và nhà văn của chúng tôi
bước vào phòng ăn. Với sự thận trọng thông thường của mình, anh ấy đã đề xuất với
tôi một vụ cá cược khá khiêm tốn. Nếu người ta trao cho tôi giải Nobel năm đó,
tôi sẽ trả tiền ăn tối tại một nhà hàng tốt nhất ở Paris, tôi mời anh ấy và vợ
của anh. Nếu không, anh ấy sẽ trả tiền cho một bữa ăn trưa mà tôi sẽ cùng dự với
Matilde.
- Nhất trí – tôi trả lời – chúng tôi sẽ có một bữa trưa tuyệt vời với
chi phí của anh.
Ngày hôm sau, tôi nhận ra lý do Edward quyết định đặt cược điều này.
Hóa ra anh ấy được một người bạn là nhà văn, nhà báo gọi từ Stockholm, người này
nói rằng chắc chắn lần này Pablo Neruda sẽ nhận giải Nobel.
Những cuộc gọi điện thoại đường dài bắt đầu nhộn nhịp. Các nhà báo gọi
từ Buenos Aires, từ Mexico và đặc biệt là từ Tây Ban Nha. Tất nhiên, tôi từ chối
mọi lời giải thích về chủ đề này, nhưng sự nghi ngờ xuất hiện trở lại trong
lòng tôi.
Tối hôm đó, Artur Lundqvist, nhà văn Thụy Điển duy nhất mà tôi kết
thân, đến thăm tôi. Ba hoặc bốn năm trước gì đó anh được bầu vào Viện Hàn lâm. Anh
đã ghé Paris trên đường đi đến miền nam nước Pháp. Sau bữa tối, tôi nói với anh
ấy rằng thật khó khăn khi tôi nói chuyện với các nhà báo nước ngoài, những người
đã gán giải thưởng Nobel cho tôi trước đó.
-Artur, tôi muốn hỏi bạn một vài thứ – tôi nói – trong trường hợp điều
này là đúng, tôi rất muốn biết trước khi báo chí đăng tải nó. Trước tiên tôi muốn
nói với Salvador Allende, người mà tôi đã sát cánh trong nhiều cuộc đấu tranh.
Anh ấy sẽ rất vui mừng khi là người đầu tiên nhận được tin tức.
Nhà học giả, nhà thơ Lundqvist nhìn tôi bằng đôi mắt Thụy Điển và nói rất
nghiêm túc:
- Tôi không thể nói cho bạn bất cứ điều gì. Nếu có bất cứ điều gì xảy
ra, nhà vua Thụy Điển hoặc đại sứ Thụy Điển tại Paris sẽ thông báo ngay cho bạn.
Điều này xảy ra vào ngày 19 và 20 tháng 10. Vào sáng ngày 21, hội trường
của các Đại sứ quán bắt đầu chật kín các nhà báo. Các nhà điều hành của các nước
Thụy Điển, Đức, Pháp và Mỹ Latinh cho thấy một sự thiếu kiên nhẫn, dọa sẽ nổi
loạn chống lại sự im lặng cứng đầu của tôi. Nhưng tôi im lặng, vì tôi không biết
gì cả.
Lúc mười một giờ rưỡi, tôi được đại sứ Thụy Điển gọi điện mà không biết
trước được nó là gì. Cuộc gọi không giúp làm dịu tâm trạng vì cuộc phỏng vấn sẽ
diễn ra hai giờ sau đó. Điện thoại cứ reo liên hồi.
Vào thời điểm đó một trong những Đài phát thanh ở Paris đã phát đi tin
tức vào phút cuối: “Giải Nobel Văn học năm 1971 sẽ được trao cho nhà thơ Chile
Pablo Neruda”. Tôi lập tức xuống gặp mặt trực tiếp với một đội quân lớn gồm các
nhà báo, nhiếp ảnh gia, nhân viên truyền hình. May mắn thay, những người bạn cũ
của tôi đã đến đại sứ quán – Jean Marsenac và Louis Aragon. Marsenac, nhà thơ
người Pháp mà tôi yêu mến đã hét lên vì sung sướng. Aragon còn hài lòng hơn tôi
rất nhiều. Cả hai đều giúp tôi đối phó với các phóng viên.
Tôi vừa mới trải qua một ca phẫu thuật gần đây, tôi vẫn còn yếu, khó
khăn đứng trên đôi chân của mình và do dự khi di chuyển. Bạn bè của tôi tụ tập
ăn tối vào tối hôm đó: Matta đến từ Ý, Garcia Marquez từ Barcelona, Siqueiros
từ Mexico City, Miguel Otero Silva từ Caracas, Arturo Camacho Ramirez từ chính
Paris, Cortazar – từ nơi ẩn náu bí mật của anh ấy. Và một người Chilê khác –
Carlos Vasallo, cùng anh ta, chúng tôi phải đến Stockholm.
Trên bàn của tôi có cả núi những bức điện mừng (tôi chưa đọc hết và trả
lời tất cả được). Trong vô số các bức thư này có một bức thư rất tò mò và có
tính chất đe dọa. Bức thư này do một quý ông gốc người da đen gửi từ Hà Lan. Bức
thư đại loại như sau: “Tôi là đại diện của phong trào chống thực dân ở
Georgetown. Tôi yêu cầu ông mời tôi đến buổi lễ được tổ chức tại Stockholm nhân
dịp trao giải thưởng Nobel cho ông. Đại sứ quán Thụy Điển cảnh báo với tôi rằng
muốn dự lễ phải có áo khoác đuôi tôm. Tôi không có tiền cho áo khoác đuôi tôm và
tôi không bao giờ đi thuê nó vì thật nhục nhã cho người Mỹ tự do mặc quần áo đã
qua sử dụng. Đó là lý do tôi muốn thông báo với ông rằng với số tiền khiêm tốn
mà tôi đã tiết kiệm được, tôi sẽ đến Stockholm tổ chức một cuộc phỏng vấn báo
chí và sẽ tố cáo, phơi bày bản chất của chủ nghĩa đế quốc trong buổi lễ sẽ được
tổ chức để vinh danh nhà thơ nổi tiếng chống đế quốc và nổi tiếng nhất thế giới”.
Vào tháng 11 Matilde và tôi đã đến Stockholm. Chúng tôi đi cùng với một
số người bạn cũ. Chúng tôi được ở trong khách sạn Grand sang trọng. Từ cửa sổ
nhìn ra thành phố lạnh lẽo xinh đẹp, cung điện hoàng gia. Những người đoạt giải
ở các lĩnh vực khác của năm nay, các nhà vật lý, hóa học, bác sĩ, v.v… cũng ở trong
khách sạn Grand. Đây là những người rất khác nhau về tính cách. Một số thích trang
trọng và nghi lễ, số khác lại thích đơn giản và khiêm tốn… Willy Brandt người Đức
không có mặt ở khách sạn, ông sẽ nhận giải Nobel Hòa bình ở Na Uy. Tôi thấy tiếc
vì đó là người mà tôi thực sự muốn gặp và nói chuyện. Sau đó tôi thấy ông ở các
buổi tiếp tân, nhưng chúng tôi luôn bị một số người cản trở.
Buổi lễ sẽ được tổ chức sau buổi diễn tập, theo nghi thức của Thụy Điển,
diễn ra tại hội trường nơi giải thưởng sẽ được trao. Thật buồn cười khi thấy
chúng tôi, những người khá nghiêm túc, trước khi ra khỏi giường, vội vã rời khỏi
khách sạn để đến cung điện đúng thời gian đã hẹn, leo lên cầu thang, không lẫn
bất cứ thứ gì, rẽ phải hoặc trái, sau đó leo lên sân khấu và ngồi vào chiếc ghế
mà bạn sẽ tham gia vào ngày trao giải. Và tất cả những điều này – trước máy quay
truyền hình, trong một hội trường trống rỗng rộng lớn, nơi phô trương ngai vàng
cũng u sầu và trống rỗng của nhà vua và nơi tôn vinh của hoàng gia. Tôi vẫn
không hiểu tại sao truyền hình Thụy Điển quyết định quay một buổi diễn tập mà
các diễn viên tệ hại như vậy tham gia.
Giải thưởng được trao vào ngày lễ Thánh Lucia. Những tiếng hát trong trẻo
nhẹ nhàng từ hành lang đã đánh thức tôi dậy. Sau đó, các cô gái Scandinavia tóc
vàng đội vương miện bằng vòng hoa và nến thắp sáng bước vào phòng tôi. Họ mang
cho tôi bữa sáng và món quà – một bức tranh dài và đẹp mô tả cảnh biển.
Ít lâu sau đó, một sự cố đã xảy ra khiến lực lượng cảnh sát Stockholm lo
lắng. Từ Phòng Lễ tân của khách sạn người ta đưa cho tôi một bức thư do một người
chống thực dân quyết liệt từ Georgetown thuộc Hà Lan ký tên. “Tôi vừa mới đến
Stockholm – bức thư viết – tôi không thể tổ chức cuộc họp báo, nhưng với tư
cách là một nhà hành động cách mạng, tôi đã thực hiện các biện pháp khác. Chúng
tôi không cho phép Pablo Neruda – nhà thơ của những người bị sỉ nhục và bị áp bức
– mặc áo khoác đuôi tôm nhận giải thưởng Nobel”. “Đó là lý do tại vì sao anh ta
mua chiếc kéo màu xanh lá cây để trước mặt toàn bộ công chúng đáng kính sẽ cắt
phần đuôi và các phần khác từ áo khoác đuôi tôm. Tôi có nhiệm vụ cảnh báo cho ông
về điều này. Khi ông thấy một người đàn ông da đen với chiếc kéo lớn màu xanh
lá cây đứng lên từ chỗ ngồi cuối hội trường thì ông biết điều gì sẽ xảy ra với
hắn”.
Tôi đưa bức thư kỳ lạ này cho nhà ngoại giao của Phòng Lễ tân đi cùng
tôi và cười nói với anh ta rằng lá thư đầu tiên từ kẻ lập dị này tôi đã nhận ở
Paris và theo tôi, điều này là vớ vẩn, không nên được coi trọng. Người Thụy Điển
trẻ tuổi không chia sẻ ý kiến của tôi.
“Trong thời đại căng thẳng của chúng ta, những điều bất ngờ nhất có thể
xảy ra. Nhiệm vụ của tôi là báo cho cảnh sát Stockholm” Anh ta nói, và sau đó đi
làm những việc mà anh ta coi là nhiệm vụ của mình.
Cần phải nói một điều rằng, có nhà văn, nhà thơ Miguel Otero Silva người
Venezuela đã đến Stockholm với tôi. Người đàn ông này đối với tôi không chỉ là
lương tâm và trí tuệ của Mỹ Latinh mà anh ấy còn là người bạn thân và người bạn
đồng hành trung thành của tôi. Một vài giờ trước khi buổi lễ diễn ra, trong bữa
ăn trưa tôi nói rằng người Thụy Điển đã lo lắng trước bức thư mà một người dân ở
Georgetown gửi cho tôi. Miguel Otero Silva – anh ấy ăn trưa với chúng tôi – đã tự
tát vào trán và kêu lên:
- Đấy là bức thư tôi viết để trêu bạn đấy, Pablo ạ. Biết làm gì với cảnh
sát bây giờ, họ đang tìm kiếm một người không có thật?
- Họ sẽ tống bạn vào tù. Chỉ những kẻ man rợ mới có khả năng đùa như vậy,
và bạn sẽ phải chịu một hình phạt xứng đáng dành cho người đàn ông Georgetown –
tôi đã nói với anh ta như vậy.
Lúc này nhà ngoại giao Thụy Điển trẻ tuổi của tôi đã quay trở lại. Anh ấy
vừa đi báo cáo với chính quyền về bức thư kia. Không ngần ngại, chúng tôi thú
nhận với anh ấy mọi thứ:
- Đây là một trò đùa không phù hợp, ngu ngốc. Tác giả của bức thư ngồi
cùng bàn với chúng tôi đây này.
Thế là anh ấy lại vội vã đi đâu đó. Nhưng cảnh sát đã tìm kiếm người
đàn ông da đen từ Georgetown trong tất cả các khách sạn ở Stockholm.
Tất cả các biện pháp phòng ngừa được tuân thủ nghiêm ngặt. Khi Matilde
và tôi bước vào hội trường nơi diễn ra buổi lễ, và khi chúng tôi bước ra từ vũ
hội chào mừng, thay vì một người thư ký như thông thường, chúng tôi được những
người vệ sĩ trẻ tuổi cao lớn đứng gần – họ được lệnh không để một người đàn ông
nào cầm chiếc kéo màu xanh đến gần tôi.
Tại lễ trao giải Nobel truyền thống có một lượng khán giả đông đảo và kỷ
luật, chỉ vỗ tay một cách lịch sự ở nơi mà nó được cho là cần thiết. Vị Quốc
vương già cả bắt tay từng người đoạt giải, trao bằng chứng nhận, huy chương
vàng và tấm séc. Sau đó chúng tôi trở lại sân khấu trang trí đầy hoa, giờ đã bớt
khó chịu hơn so với những ngày diễn tập. Tất cả những người đoạt giải Nobel ngồi
trong ghế bành. Người ta nói (hoặc có lẽ chỉ muốn làm hài lòng Matilde) rằng
nhà vua Thụy Điển đã dành cho tôi nhiều thời gian hơn những người khác, rằng
Ngài đã bắt tay tôi lâu hơn những người khác, và nói chung là Ngài có cảm tình đặc
biệt với tôi. Đây hẳn là truyền thống từ quá khứ xa xôi, khi các vị vua cho
phép mình trở nên hòa nhã với những người hát rong. Không biết có phải như vậy
không, nhưng không có vị vua nào khác bắt tay tôi, dù là vội vàng hoặc với sự
tôn kính.
Nghi thức nghiêm ngặt này chắc chắn là rất long trọng. Dường như sự
trang trọng đi kèm với nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc sống của chúng ta sẽ
không bao giờ biến mất. Vì rằng con người ta cần đến nó. Tuy nhiên tôi cảm thấy
rằng có một sự tương đồng rất buồn cười giữa cuộc diễu hành của những người đoạt
giải Nobel và việc trao giải thưởng cho các em học sinh ở một thị trấn nhỏ.
= =
Chú thích những tên riêng được nhắc đến trong bài viết:
*Georges Simenon (1903 – 1989) – Nhà văn Bỉ rất nổi tiếng với truyện
trinh thám.
*Alonso de Ercilla (1533 – 1594) – Nhà thơ Tây Ban Nha, tác giả của bộ
sử thi “La Araucana”.
*Giorgos Seferis (1900 – 1971) – Nhà ngoại giao, nhà thơ Hy Lạp đoạt giải
Nobel năm 1963.
*Rómulo Gallegos (1884 – 1969) – Tổng thống Venezuela năm 1948, nhà văn
Venezuela.
*Paul Valéry (1871 – 1945) – Nhà thơ Pháp
*Tomás Lago (1903 – 1975) – Nhà thơ Chilê, bạn thời trẻ của Pablo
Neruda
*Gösta Berling – Nhân vật trong tác phẩm “Truyền thuyết về Gösta
Berling” (Gösta Berlings saga) của nữ nhà văn Thụy Điển Selma Lagerlöf
*Jean Marsenac (1913 – 1984) – Nhà thơ Pháp
*Louis Aragon (1897 – 1982) – Nhà thơ Pháp
*Artur Lundqvist (1906 – 1991) – Nhà văn, nhà thơ Thụy Điển
*Salvador Allende (1908 – 1973) – Chính khách, Tổng thống Chilê từ 3
tháng 11 năm 1970 cho đến ngày đảo chính quân sự và bị giết chết
*Roberto Matta (1911 – 2002) – Họa sĩ người Chilê
*Miguel Otero Silva (1908 – 1985) – Nhà văn, nhà thơ Venezuela











Tôi không thể cảm ơn Tiến sĩ EKPEN TEMPLE đủ để giúp tôi khôi phục lại cuộc hôn nhân của mình với niềm vui và sự an tâm của nhiều vấn đề gần như dẫn đến ly hôn. Cảm ơn Chúa, tôi đã tổ chức Tiến sĩ EKPEN TEMPLE đúng giờ. Hôm nay tôi có thể nói với bạn rằng Tiến sĩ EKPEN TEMPLE là giải pháp cho vấn đề này trong hôn nhân và mối quan hệ của bạn. Liên lạc với anh ấy tại (ekpentemple@gmail.com)
Trả lờiXóa