Pablo
Neruda (1904-1973) là bút danh của Neftali Ricardo Reyes y
Basoalto – nhà thơ Chilê đoạt giải Nobel Văn học 1971 “vì thơ ca với sức mạnh siêu nhiên thể hiện số phận và ước mơ của cả một lục địa”. Bút danh Neruda được lấy theo họ của nhà thơ Séc Jan Neruda. Nhà văn Gabriel Gabriel García Márquez gọi Pablo Neruda là “nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20 bằng bất cứ ngôn ngữ nào”. Nhà phê bình văn học Harold Bloom xếp Pablo Neruda là một trong 26 nhà văn trung tâm của “Truyền thống phương Tây” trong cuốn sách nổi tiếng “The Western Canon”.
Tiểu sử:
Pablo Neruda sinh ngày 12-7-1904 tại thị trấn Parral, sau đó gia đình chuyển về Temuco, miền nam Chilê. Ông học tiếng Pháp và Giáo dục học, rồi dạy tiếng Pháp, làm nhà ngoại giao, đi rất nhiều nơi trên thế giới; là một trong những nhân vật quan trọng trong chính quyền Chile. Năm 1927 ông làm lãnh sự Chilê ở Burma (nay là Myanmar), năm 1932 ở Argentina, năm 1934 ở Tây Ban Nha. Năm 1945 được bầu vào Thượng nghị viện, nhưng mấy năm sau bị buộc tội phản quốc và phải trốn sang Mexico vì đã công khai phê phán chính phủ đương nhiệm. Năm 1970 ông về nước ra tranh cử Tổng thống, là bạn và người ủng hộ nhiệt thành của tổng thống S. Agende.
Pablo Neruda bắt đầu sự nghiệp văn chương từ rất sớm; hai mươi tuổi ông xuất bản tập thơ Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng, là tập thơ bán chạy nhất ở Chile, làm cho ông trở thành một trong những nhà thơ trẻ nổi danh nhất ở Mỹ Latinh. Tập thơ Bài ca chung gồm 340 bài thơ được coi là kiệt tác đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông.
P. Neruda đã đi từ trường phái biểu tượng sang siêu thực và cuối cùng trở thành hiện thực, là nhà thơ nhập cuộc, nhà thơ chiến đấu, ảnh hưởng của thơ ông đối với các dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha là rất lớn. Năm 1971 ông được trao giải Nobel vì những lời thơ phản kháng vang khắp thế giới, có một trí tưởng tượng mãnh liệt và chất trữ tình tế nhị. P. Neruda là nhà nghệ sĩ cách mạng đấu tranh cho phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Mỹ Latinh và hòa bình thế giới, là tác giả của những kiệt tác thơ tình cuồng nhiệt, những áng thơ triết lý sâu sắc và của cả những bản tụng ca những điều giản dị, đời thường. Ông được coi là một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỉ XX. Thơ ông được dịch nhiều và được yêu thích ở Việt Nam.
Pablo Neruda mất ngày 23-9-1973 tại thủ đô Santiago, 12 ngày sau khi chính quyền của Tổng thống Salvador Allende bị lật đổ và Augusto Pinochet lên nắm quyền. Nhà thơ “đã sống một cuộc sống dệt từ tất cả mọi cuộc đời”, tác giả của 40 tập thơ không hề giống nhau, để các nhà phê bình gọi là “một xưởng thơ”. Ông là người thể hiện tâm hồn của các quốc gia Mỹ Latinh, người đạt đến đỉnh cao của thơ Baroque Tây Ban Nha.
Tác phẩm:
* Bài ca ngày hội (La cancion de la fiesta, 1921), thơ
* Hoàng hôn (Crepusculario, 1923), thơ
* Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng (Viente poemas de amor y una canciún desesperada, 1924), thơ
* Sự mạo hiểm của con người bất tử (Tentativa del hombre in finito, 1926), thơ.
* Trú ngụ trên trái đất (Residencia en la tierra, tập 1, 1933, tập 2, 1935), thơ
* Tây Ban Nha trong tim (Espana en el corazon, 1937), thơ.
* Bài ca Stalingrad (Canto Stalingrado, 1942), thơ.
* Bài ca chung của Chile (Canto general de Chile, 1939), chùm thơ sử thi.
* Bài ca chung (Canto general, 1950), thơ.
* Chùm nho và những ngọn gió (La uvas y el viento, 1954), thơ.
* Bài ca khởi thủy (Odas elementales, 1954_1959), thơ, 3 tập
* Bài ca chiến công (Canción de gesta, 1960), thơ.
* Đi biển và trở về (Na vegacionesy regresos, 1959), thơ.
* Một trăm bài sonnnê tình yêu (Cien sonetos de amur, 1960), thơ.
* Những viên ngọc Chile (Les piedras de Chile, 1960), thơ.
* Những bài ca nghi lễ (Cantos ceremoniales, 1961), thơ.
* Đài kỉ niệm của Isla Negra (Memorial de Isla Negra, 1964), thơ
Tiểu sử:
Pablo Neruda sinh ngày 12-7-1904 tại thị trấn Parral, sau đó gia đình chuyển về Temuco, miền nam Chilê. Ông học tiếng Pháp và Giáo dục học, rồi dạy tiếng Pháp, làm nhà ngoại giao, đi rất nhiều nơi trên thế giới; là một trong những nhân vật quan trọng trong chính quyền Chile. Năm 1927 ông làm lãnh sự Chilê ở Burma (nay là Myanmar), năm 1932 ở Argentina, năm 1934 ở Tây Ban Nha. Năm 1945 được bầu vào Thượng nghị viện, nhưng mấy năm sau bị buộc tội phản quốc và phải trốn sang Mexico vì đã công khai phê phán chính phủ đương nhiệm. Năm 1970 ông về nước ra tranh cử Tổng thống, là bạn và người ủng hộ nhiệt thành của tổng thống S. Agende.
Pablo Neruda bắt đầu sự nghiệp văn chương từ rất sớm; hai mươi tuổi ông xuất bản tập thơ Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng, là tập thơ bán chạy nhất ở Chile, làm cho ông trở thành một trong những nhà thơ trẻ nổi danh nhất ở Mỹ Latinh. Tập thơ Bài ca chung gồm 340 bài thơ được coi là kiệt tác đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông.
P. Neruda đã đi từ trường phái biểu tượng sang siêu thực và cuối cùng trở thành hiện thực, là nhà thơ nhập cuộc, nhà thơ chiến đấu, ảnh hưởng của thơ ông đối với các dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha là rất lớn. Năm 1971 ông được trao giải Nobel vì những lời thơ phản kháng vang khắp thế giới, có một trí tưởng tượng mãnh liệt và chất trữ tình tế nhị. P. Neruda là nhà nghệ sĩ cách mạng đấu tranh cho phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Mỹ Latinh và hòa bình thế giới, là tác giả của những kiệt tác thơ tình cuồng nhiệt, những áng thơ triết lý sâu sắc và của cả những bản tụng ca những điều giản dị, đời thường. Ông được coi là một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỉ XX. Thơ ông được dịch nhiều và được yêu thích ở Việt Nam.
Pablo Neruda mất ngày 23-9-1973 tại thủ đô Santiago, 12 ngày sau khi chính quyền của Tổng thống Salvador Allende bị lật đổ và Augusto Pinochet lên nắm quyền. Nhà thơ “đã sống một cuộc sống dệt từ tất cả mọi cuộc đời”, tác giả của 40 tập thơ không hề giống nhau, để các nhà phê bình gọi là “một xưởng thơ”. Ông là người thể hiện tâm hồn của các quốc gia Mỹ Latinh, người đạt đến đỉnh cao của thơ Baroque Tây Ban Nha.
Tác phẩm:
* Bài ca ngày hội (La cancion de la fiesta, 1921), thơ
* Hoàng hôn (Crepusculario, 1923), thơ
* Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng (Viente poemas de amor y una canciún desesperada, 1924), thơ
* Sự mạo hiểm của con người bất tử (Tentativa del hombre in finito, 1926), thơ.
* Trú ngụ trên trái đất (Residencia en la tierra, tập 1, 1933, tập 2, 1935), thơ
* Tây Ban Nha trong tim (Espana en el corazon, 1937), thơ.
* Bài ca Stalingrad (Canto Stalingrado, 1942), thơ.
* Bài ca chung của Chile (Canto general de Chile, 1939), chùm thơ sử thi.
* Bài ca chung (Canto general, 1950), thơ.
* Chùm nho và những ngọn gió (La uvas y el viento, 1954), thơ.
* Bài ca khởi thủy (Odas elementales, 1954_1959), thơ, 3 tập
* Bài ca chiến công (Canción de gesta, 1960), thơ.
* Đi biển và trở về (Na vegacionesy regresos, 1959), thơ.
* Một trăm bài sonnnê tình yêu (Cien sonetos de amur, 1960), thơ.
* Những viên ngọc Chile (Les piedras de Chile, 1960), thơ.
* Những bài ca nghi lễ (Cantos ceremoniales, 1961), thơ.
* Đài kỉ niệm của Isla Negra (Memorial de Isla Negra, 1964), thơ
* Những cánh tay của ngày ( Las manos del día, 1968), thơ
*
Ngày tận thế (Fin de mundo, 1969),
thơ
*
Những viên đá trời (Las piedras del
cielo, 1970), thơ
* Biển cả và tiếng chuông (El mar y las campanas, 1973), thơ
* Trái tim vàng (El corazon amarillo, 1974), thơ
* Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống (Confieso que he vivido, 1974), văn xuôi
* Biển cả và tiếng chuông (El mar y las campanas, 1973), thơ
* Trái tim vàng (El corazon amarillo, 1974), thơ
* Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống (Confieso que he vivido, 1974), văn xuôi
Blog riêng
Trích một số bài thơ
Ở VIỆT NAM
Ai
đã gây nên chiến tranh?
Từ ngày hôm kia tôi đã nghe thấy nó.
Và tôi sợ.
Chiến tranh vang rền
tựa như đá ném vào tường
như tiếng sấm cùng với máu
như đang chết dần cả núi non.
Thế giới này
tạo ra không phải tôi.
Và không phải bạn.
Thế giới có từ xưa rồi.
Ai đe dọa cuộc đời móng nhọn?
Ai kề dao bên cổ cuộc đời?
Thế giới này chỉ sinh ra, có phải?
Còn ai đi chém giết vì điều này?
người đi xe đạp vô cùng sợ hãi
và vị kiến trúc sư.
Người mẹ nuôi đứa con thơ
trong đất bùn ẩn giấu
người mẹ ngủ trong hang
còn chiến tranh lan tràn
bằng lửa cháy
và những người chết ở đấy
là người mẹ cùng với đứa con.
Họ đã chết trong bùn.
Ôi đau thương!
và kế từ dạo ấy
đến bây giờ họ vẫn sống trong bùn.
Họ bắn súng và hát lên. Lạy Chúa tôi
giá mà nói cho bạn biết điều này
trước khi sáng tạo ra thế giới
giá mà, dù chỉ là lời nói nhỏ bên tai
rằng những người thân yêu nhất của bạn trên đời
cần phải chết khổ đau như vậy
không bao giờ biết được tại vì đâu?!
Chính những kẻ giết người này
sẽ đến giết tôi và bạn
chính những kẻ giết người này
sẽ đến đây đốt bạn và tôi
những kẻ phiêu lưu mạo hiểm hay cười
những kẻ huyênh hoang, rối rắm
sẽ bay đến đây
hủy diệt thế giới này.
Chúng đã bỏ lại trên đồng
máu của mẹ, cha, của những đứa con
bạn hãy đi tìm trong đó
xương và máu của mình
lẫn trong bùn đất của Việt Nam.
Bạn hãy tìm giữa đống xương người lạ
bị thiêu cháy, bây giờ chẳng của riêng ai
của tất cả mọi người
của chúng ta – của tôi và bạn
bạn hãy đi tìm
trong cái chết này cái chết của mình
bởi những kẻ giết người rồi sẽ săn lùng bạn
mang đến cho bạn cái chết trong bùn.

Từ ngày hôm kia tôi đã nghe thấy nó.
Và tôi sợ.
Chiến tranh vang rền
tựa như đá ném vào tường
như tiếng sấm cùng với máu
như đang chết dần cả núi non.
Thế giới này
tạo ra không phải tôi.
Và không phải bạn.
Thế giới có từ xưa rồi.
Ai đe dọa cuộc đời móng nhọn?
Ai kề dao bên cổ cuộc đời?
Thế giới này chỉ sinh ra, có phải?
Còn ai đi chém giết vì điều này?
người đi xe đạp vô cùng sợ hãi
và vị kiến trúc sư.
Người mẹ nuôi đứa con thơ
trong đất bùn ẩn giấu
người mẹ ngủ trong hang
còn chiến tranh lan tràn
bằng lửa cháy
và những người chết ở đấy
là người mẹ cùng với đứa con.
Họ đã chết trong bùn.
Ôi đau thương!
và kế từ dạo ấy
đến bây giờ họ vẫn sống trong bùn.
Họ bắn súng và hát lên. Lạy Chúa tôi
giá mà nói cho bạn biết điều này
trước khi sáng tạo ra thế giới
giá mà, dù chỉ là lời nói nhỏ bên tai
rằng những người thân yêu nhất của bạn trên đời
cần phải chết khổ đau như vậy
không bao giờ biết được tại vì đâu?!
Chính những kẻ giết người này
sẽ đến giết tôi và bạn
chính những kẻ giết người này
sẽ đến đây đốt bạn và tôi
những kẻ phiêu lưu mạo hiểm hay cười
những kẻ huyênh hoang, rối rắm
sẽ bay đến đây
hủy diệt thế giới này.
Chúng đã bỏ lại trên đồng
máu của mẹ, cha, của những đứa con
bạn hãy đi tìm trong đó
xương và máu của mình
lẫn trong bùn đất của Việt Nam.
Bạn hãy tìm giữa đống xương người lạ
bị thiêu cháy, bây giờ chẳng của riêng ai
của tất cả mọi người
của chúng ta – của tôi và bạn
bạn hãy đi tìm
trong cái chết này cái chết của mình
bởi những kẻ giết người rồi sẽ săn lùng bạn
mang đến cho bạn cái chết trong bùn.

En Vietnam
¿ Y quién hizo la guerra?
Desde anteayer está sonando.
Tengo miedo.
Suena como una piedra
contra el muro,
como un trueno con sangre,
como un monte muriendo:
es el mundo
que yo no hice.
Que tú no hiciste.
Que hicieron.
Quién lo amenaza con dedos terribles?
Quién quiere degollarlo?
Verdad que parecía estar naciendo ?
Y quién lo mata ahora porque nace?
Tiene miedo el ciclista
el arquitecto
Se esconde la mamá con su nino y sus senos,
en el barro.
Duerme en la cueva esta mamá y de pronto
laguerra,
viene grande la guerra,
viene llena de fuego
y ya quedaron muertos,
la marde con su leche y con su hijo.
Murieron en el barro.
Oh dolor, desde entonces
hasta ahora
hay que estar con el barro
hasta las sienes
cantando y disparando? Santo Dios!
Si te lo hubieran dicho
antes de ser, anten de casi ser,
sipor lo menos
te hubieran susurrado
que tus parientes o tus no parientes,
hijo de aquella risa del amor,
hijo de esperma humana,
y de aquella fragancia
a nuevo lunes y a camisa fresca
tenian que morir tan repentiamente
y sin saber jamás de qué se trata!
Son los mismos
que vienen a matarnos,
sí, son los mismos
que vendrán a quemarmos,
sí, los mismos,
los ganancio sos y los jactanciosos
los sonrientes que jugaban tanto
y que ganaban tanto,
ahora
por el aire
vienen, vendrán, vinieron,
a matarnos el mundo.
Han dejado una charca
de parde, madre e hijo:
busquemos
en ella,
busca tus propios huesos y tu sangre,
búscalos en el barro de Vietnam,
búscalos entre otros tantos huesos:
ahora quemados ya no son de nadie,
son de todos,
son nuestros huesos, busca
tu muerte en esa muerte,
porque estan acechandote los mismos
y te destinan a ese mismo barro.
FAREWELL
¿ Y quién hizo la guerra?
Desde anteayer está sonando.
Tengo miedo.
Suena como una piedra
contra el muro,
como un trueno con sangre,
como un monte muriendo:
es el mundo
que yo no hice.
Que tú no hiciste.
Que hicieron.
Quién lo amenaza con dedos terribles?
Quién quiere degollarlo?
Verdad que parecía estar naciendo ?
Y quién lo mata ahora porque nace?
Tiene miedo el ciclista
el arquitecto
Se esconde la mamá con su nino y sus senos,
en el barro.
Duerme en la cueva esta mamá y de pronto
laguerra,
viene grande la guerra,
viene llena de fuego
y ya quedaron muertos,
la marde con su leche y con su hijo.
Murieron en el barro.
Oh dolor, desde entonces
hasta ahora
hay que estar con el barro
hasta las sienes
cantando y disparando? Santo Dios!
Si te lo hubieran dicho
antes de ser, anten de casi ser,
sipor lo menos
te hubieran susurrado
que tus parientes o tus no parientes,
hijo de aquella risa del amor,
hijo de esperma humana,
y de aquella fragancia
a nuevo lunes y a camisa fresca
tenian que morir tan repentiamente
y sin saber jamás de qué se trata!
Son los mismos
que vienen a matarnos,
sí, son los mismos
que vendrán a quemarmos,
sí, los mismos,
los ganancio sos y los jactanciosos
los sonrientes que jugaban tanto
y que ganaban tanto,
ahora
por el aire
vienen, vendrán, vinieron,
a matarnos el mundo.
Han dejado una charca
de parde, madre e hijo:
busquemos
en ella,
busca tus propios huesos y tu sangre,
búscalos en el barro de Vietnam,
búscalos entre otros tantos huesos:
ahora quemados ya no son de nadie,
son de todos,
son nuestros huesos, busca
tu muerte en esa muerte,
porque estan acechandote los mismos
y te destinan a ese mismo barro.
FAREWELL
1
Từ trong sâu thẳm nhìn vào mắt em
Những ước mơ chưa trở thành hiện thực
Vì cuộc đời này ta đem hoà nhập
Cuộc đời của anh và của em.
Vì những bàn tay này, những bàn tay của ta
Ta hãy học cách xây và phá bỏ
Vì những đôi mắt này em hãy chùi giọt lệ
Dù lệ không còn, sẽ đau đớn gấp ba.
2
Những điều này không cần nữa đâu em
Mặc cho hai ta không còn giữ gìn
Cái sức mạnh từng bắt hai chúng mình làm một.
Không phải lời mà em thoáng nghĩ ra
Không phải điều mà bằng lời không tả được
Không phải cơn bão lòng, thuở trước
Không phải bờ mi em run rẩy phút chia xa.
3
Anh thích tình yêu của những người đi biển
Gặp gỡ rồi chia xa
Họ hứa hẹn sẽ quay về
Nhưng họ không về, em có thấy
Và bến tàu – như cô gái
Vẫn mong rằng họ sẽ về mau
Nhưng ngoài biển khơi, nơi con sóng bạc đầu
Họ lấy cho mình cái chết.
4
Anh thích tình yêu, nơi hai người sẻ chia
Bánh mì và nơi ngủ trọ.
Tình yêu cho một thời gian
Hay tình yêu muôn thuở.
Tình yêu là sự nổi loạn ở trong tim
Chứ không phải là con tim tê liệt.
Tình yêu, có tình yêu bắt kịp
Và có tình yêu không bắt kịp bao giờ.
5
Mắt anh không còn uống đã ánh mắt em
Nỗi đau ngày nào trong tim không thành sẹo
Nhưng dù ở đâu, anh vẫn thấy mắt em nhìn
Và nỗi đau anh vẫn theo em khắp mọi nẻo.
Em đã từng của anh. Anh đã từng của em
Nghĩa là ta đã từng sống trong tình.
Anh đã từng của em. Em đã từng của anh
Khi em yêu người khác. Kẻ đó là người tình.
Anh từ giã buồn đau. Nhưng muôn đời đau khổ
Từ nơi gặp gỡ của chúng mình anh chẳng biết sẽ về đâu?
Vĩnh biệt! Một giọng nói thủ thỉ trong tim
Và anh cũng nhủ lòng: vĩnh biệt!
F A R E W E L L
1
DESDE el fondo de ti, y arrodillado,
un niño triste, como yo, nos mira.
Por esa vida que arderá en sus venas
tendrían que amarrarse nuestras vidas.
Por esas manos, hijas de tus manos,
tendrían que matar las manos mías.
Por sus ojos abiertos en la tierra
veré en los tuyos lágrimas un día.
2
YO NO lo quiero, Amada.
Para que nada nos amarre
que no nos una nada.
Ni la palabra que aromó tu boca,
ni lo que no dijeron las palabras.
Ni la fiesta de amor que no tuvimos,
ni tus sollozos junto a la ventana.
3
(AMO el amor de los marineros
que besan y se van.
Dejan una promesa.
No vuelven nunca más.
En cada puerto una mujer espera:
los marineros besan y se van.
Una noche se acuestan con la muerte
en el lecho del mar.
4
AMO el amor que se reparte
en besos, lecho y pan.
Amor que puede ser eterno
y puede ser fugaz.
Amor que quiere libertarse
para volver a amar.
Amor divinizado que se acerca
Amor divinizado que se va.)
5
YA NO se encantarán mis ojos en tus ojos,
ya no se endulzará junto a ti mi dolor.
Pero hacia donde vaya llevaré tu mirada
y hacia donde camines llevarás mi dolor.
Fui tuyo, fuiste mía. Qué más? Juntos hicimos
un recodo en la ruta donde el amor pasó.
Fui tuyo, fuiste mía. Tu serás del que te ame,
del que corte en tu huerto lo que he sembrado yo.
Yo me voy. Estoy triste: pero siempre estoy triste.
Vengo desde tus brazos. No sé hacia dónde voy.
...Desde tu corazón me dice adiós un niño.
Y yo le digo adiós.

Và nỗi đau anh vẫn theo em khắp mọi nẻo.
Em đã từng của anh. Anh đã từng của em
Nghĩa là ta đã từng sống trong tình.
Anh đã từng của em. Em đã từng của anh
Khi em yêu người khác. Kẻ đó là người tình.
Anh từ giã buồn đau. Nhưng muôn đời đau khổ
Từ nơi gặp gỡ của chúng mình anh chẳng biết sẽ về đâu?
Vĩnh biệt! Một giọng nói thủ thỉ trong tim
Và anh cũng nhủ lòng: vĩnh biệt!
F A R E W E L L
1
DESDE el fondo de ti, y arrodillado,
un niño triste, como yo, nos mira.
Por esa vida que arderá en sus venas
tendrían que amarrarse nuestras vidas.
Por esas manos, hijas de tus manos,
tendrían que matar las manos mías.
Por sus ojos abiertos en la tierra
veré en los tuyos lágrimas un día.
2
YO NO lo quiero, Amada.
Para que nada nos amarre
que no nos una nada.
Ni la palabra que aromó tu boca,
ni lo que no dijeron las palabras.
Ni la fiesta de amor que no tuvimos,
ni tus sollozos junto a la ventana.
3
(AMO el amor de los marineros
que besan y se van.
Dejan una promesa.
No vuelven nunca más.
En cada puerto una mujer espera:
los marineros besan y se van.
Una noche se acuestan con la muerte
en el lecho del mar.
4
AMO el amor que se reparte
en besos, lecho y pan.
Amor que puede ser eterno
y puede ser fugaz.
Amor que quiere libertarse
para volver a amar.
Amor divinizado que se acerca
Amor divinizado que se va.)
5
YA NO se encantarán mis ojos en tus ojos,
ya no se endulzará junto a ti mi dolor.
Pero hacia donde vaya llevaré tu mirada
y hacia donde camines llevarás mi dolor.
Fui tuyo, fuiste mía. Qué más? Juntos hicimos
un recodo en la ruta donde el amor pasó.
Fui tuyo, fuiste mía. Tu serás del que te ame,
del que corte en tu huerto lo que he sembrado yo.
Yo me voy. Estoy triste: pero siempre estoy triste.
Vengo desde tus brazos. No sé hacia dónde voy.
...Desde tu corazón me dice adiós un niño.
Y yo le digo adiós.

NỮ HOÀNG
Anh gọi em là nữ hoàng
Thực ra là cao hơn em, cao hơn
Thực ra là thanh sạch hơn, sạch hơn
Thực ra là đẹp hơn em, đẹp hơn.
Nhưng nữ hoàng là em.
Khi em đi trên đường phố
Ai cũng ngước mắt nhìn
Không thấy vương miện pha lê trong
Và thảm bằng vàng tấm
Nhưng nơi em đặt bàn chân đến
Thảm ấy không cần.
Em cứ ngỡ rằng
Trong người anh
Mọi con sông trên đời đang hát
Và trên trời tiếng chuông gióng lên
Một bài ca bay trên mặt đất.
Nhưng chỉ em và anh
Chỉ anh và em, hai đứa
Có thể nghe ra bài hát này.
La Reina
Yo te he nombrado reina.
Hay más altas que tú, más altas.
Hay más puras que tú, más puras.
Hay más bellas que tú, hay más bellas.
Pero tú eres la reina.
Cuando vas por las calles
nadie te reconoce.
Nadie ve tu corona de cristal, nadie mira
la alfombra de oro rojo
que pisas donde pasas,
la alfombra que no existe.
Y cuando asomas
suenan todos los ríos
en mi cuerpo, sacuden
el cielo las campanas,
y un himno llena el mundo.
Sólo tú y yo,
sólo tú y yo, amor mío,
lo escuchamos.
Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (1924)
Poema 15
Tôi yêu sự im lặng vì không có em bên mình
Vì em ở xa xôi lời tôi không thể đến
Dường như đôi mắt em đang bay trên đôi cánh
Và dường như nụ hôn này khép lại môi em.
Bao sự vật ở đời đang chất chứa trong lòng
Hồn của tôi tràn đầy, em bước ra từ đó
Như hồn tôi, em như giấc mơ con bướm nhỏ
Và em giống như những từ ngữ u buồn.
Tôi yêu sự im lặng vì em ở xa xăm
Lời than phiền như lời ru con bướm
Vì em ở xa xôi lời tôi không thể đến
Hãy để tôi im lặng cùng sự im lặng của em.
Hãy để tôi chuyện trò với im lặng của em
Sáng tỏ như ngọn đèn, giản đơn như chiếc nhẫn.
Em như bầu trời đêm đầy sao và im ắng
Im lặng như sao trời, giản dị, thật xa xăm.
Tôi yêu sự im lặng vì không có em bên mình
Xa cách và đau buồn như là em đã chết
Một lời nói lúc này, một nụ cười đủ biết
Cho tôi mừng vì em không chết thật nghe em.
Poema 15
Me gustas cuando callas porque estás como ausente,
y me oyes desde lejos, y mi voz no te toca.
Parece que los ojos se te hubieran volado
y parece que un beso te cerrara la boca.
Como todas las cosas están llenas de mi alma
emerges de las cosas, llena del alma mía.
Mariposa de sueño, te pareces a mi alma,
y te pareces a la palabra melancolía;
Me gustas cuando callas y estás como distante.
Y estás como quejándote, mariposa en arrullo.
Y me oyes desde lejos, y mi voz no te alcanza:
déjame que me calle con el silencio tuyo.
Déjame que te hable también con tu silencio
claro como una lámpara, simple como un anillo.
Eres como la noche, callada y constelada.
Tu silencio es de estrella, tan lejano y sencillo.
Me gustas cuando callas porque estás como ausente.
Distante y dolorosa como si hubieras muerto.
Una palabra entonces, una sonrisa bastan.
Y estoy alegre, alegre de que no sea cierto.
TIẾNG CƯỜI CỦA EM
Cứ lấy đi bánh mì, nếu như em muốn
và lấy đi không khí của tôi, nhưng
đừng lấy đi tiếng cười của em.
Đừng lấy đi đóa hoa hồng
và hoa cúc mà em thường hái
và dòng nước đột nhiên tuôn chảy
trong niềm vui rất sảng khoái của em
và cả con sóng bạc đột nhiên
con sóng này sinh ra từ em đó.
Anh trở về từ chông gai nghiệt ngã
đôi mắt của anh mệt mỏi, lừ đừ
vì lẽ đó đôi khi anh nhìn ra
rằng trái đất này không hề thay đổi
nhưng khi tiếng cười em cất lên sôi nổi
đi tìm anh, chợt cao vút lên trời
trước mặt anh có biết bao cánh cửa
mở toang ra cho anh bước vào đời.
Trong giờ tăm tối nhất, người yêu ơi
em hãy cất lên tiếng cười rộn rã
và nếu bỗng nhiên em nhìn thấy rõ
rằng dòng máu nóng của anh
rơi trên từng viên đá trên đường phố
thì em ơi hãy cười lên khi đó
vì tiếng cười của em sẽ trở thành
thanh kiếm sắc ở trong tay anh đó.
Vào mùa thu em đi về biển cả
thì em nhớ nhé hãy cười lên
tiếng cười em như bọt nước thác tràn
còn khi mùa xuân về, em yêu ạ
anh muốn tiếng cười của em rộn rã
như bông hoa mà anh vẫn chờ mong
những bông hoa màu xanh, những bông hồng
những bông hoa miền quê anh rộn rã.
Trong đêm tối hãy cười lên em nhé
giữa ánh sáng ngày, dưới ánh trăng thanh
cả những khi trên những con đường cong
lượn vòng quanh trên những hòn đảo nhỏ
em cứ việc cười cả cái chàng trai trẻ
dù vụng về, chàng trai đó yêu em
nhưng mỗi khi anh mở mắt ra nhìn
rồi sau đó đôi mắt anh nhắm lại
khi bước chân anh đi ra thiên hạ
rồi lại quay về những bước chân anh
cứ lấy đi cả ánh sáng, mùa xuân
cứ lấy đi cả bánh mì, không khí
nhưng đừng lấy đi tiếng cười của em
đừng bao giờ - không thì anh chết đó.
Tu Risa
Quitame el pan si quieres,
quitame el aire, pero
no me quites tu risa.
No me quites la rosa,
la lanza que desgranas,
el agua que de pronto
estalla en tu alegria,
la repentina ola
de planta que te nace.
Mi lucha es dura y vuelvo
con los ojos cansados
a veces de haber visto
la tierra que no cambia,
pero al entrar tu risa
sube al cielo buscandome
y abre para mi
todas las puertas de la vida.
Amor mio, en la hora
mas oscura desgrana
tu risa, y si de pronto
ves que mi sangre mancha
las piedras de la calle,
rie, porque tu risa
sera para mis manos
como una espada fresca.
Junto al mar en otono,
tu risa debe alzar
su cascada de espuma,
y en primavera, amor,
quiero tu risa como
la flor que yo esperaba,
la flor azul, la rosa
de mi patria sonora.
Riete de la noche,
del dia, de la luna,
riete de las calles
torcidas de la isla,
riete de este torpe
muchacho que te quiere,
pero cuando yo abro
los ojos y los cierro,
cuando mis pasos van,
cuando vuelven mis pasos,
niegame el pan, el aire,
la luz, la primavera,
pero tu risa nunca
porque me moriria.

Thực ra là thanh sạch hơn, sạch hơn
Thực ra là đẹp hơn em, đẹp hơn.
Nhưng nữ hoàng là em.
Khi em đi trên đường phố
Ai cũng ngước mắt nhìn
Không thấy vương miện pha lê trong
Và thảm bằng vàng tấm
Nhưng nơi em đặt bàn chân đến
Thảm ấy không cần.
Em cứ ngỡ rằng
Trong người anh
Mọi con sông trên đời đang hát
Và trên trời tiếng chuông gióng lên
Một bài ca bay trên mặt đất.
Nhưng chỉ em và anh
Chỉ anh và em, hai đứa
Có thể nghe ra bài hát này.
La Reina
Yo te he nombrado reina.
Hay más altas que tú, más altas.
Hay más puras que tú, más puras.
Hay más bellas que tú, hay más bellas.
Pero tú eres la reina.
Cuando vas por las calles
nadie te reconoce.
Nadie ve tu corona de cristal, nadie mira
la alfombra de oro rojo
que pisas donde pasas,
la alfombra que no existe.
Y cuando asomas
suenan todos los ríos
en mi cuerpo, sacuden
el cielo las campanas,
y un himno llena el mundo.
Sólo tú y yo,
sólo tú y yo, amor mío,
lo escuchamos.
Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (1924)
Poema 15
Tôi yêu sự im lặng vì không có em bên mình
Vì em ở xa xôi lời tôi không thể đến
Dường như đôi mắt em đang bay trên đôi cánh
Và dường như nụ hôn này khép lại môi em.
Bao sự vật ở đời đang chất chứa trong lòng
Hồn của tôi tràn đầy, em bước ra từ đó
Như hồn tôi, em như giấc mơ con bướm nhỏ
Và em giống như những từ ngữ u buồn.
Tôi yêu sự im lặng vì em ở xa xăm
Lời than phiền như lời ru con bướm
Vì em ở xa xôi lời tôi không thể đến
Hãy để tôi im lặng cùng sự im lặng của em.
Hãy để tôi chuyện trò với im lặng của em
Sáng tỏ như ngọn đèn, giản đơn như chiếc nhẫn.
Em như bầu trời đêm đầy sao và im ắng
Im lặng như sao trời, giản dị, thật xa xăm.
Tôi yêu sự im lặng vì không có em bên mình
Xa cách và đau buồn như là em đã chết
Một lời nói lúc này, một nụ cười đủ biết
Cho tôi mừng vì em không chết thật nghe em.
Poema 15
Me gustas cuando callas porque estás como ausente,
y me oyes desde lejos, y mi voz no te toca.
Parece que los ojos se te hubieran volado
y parece que un beso te cerrara la boca.
Como todas las cosas están llenas de mi alma
emerges de las cosas, llena del alma mía.
Mariposa de sueño, te pareces a mi alma,
y te pareces a la palabra melancolía;
Me gustas cuando callas y estás como distante.
Y estás como quejándote, mariposa en arrullo.
Y me oyes desde lejos, y mi voz no te alcanza:
déjame que me calle con el silencio tuyo.
Déjame que te hable también con tu silencio
claro como una lámpara, simple como un anillo.
Eres como la noche, callada y constelada.
Tu silencio es de estrella, tan lejano y sencillo.
Me gustas cuando callas porque estás como ausente.
Distante y dolorosa como si hubieras muerto.
Una palabra entonces, una sonrisa bastan.
Y estoy alegre, alegre de que no sea cierto.
TIẾNG CƯỜI CỦA EM
Cứ lấy đi bánh mì, nếu như em muốn
và lấy đi không khí của tôi, nhưng
đừng lấy đi tiếng cười của em.
Đừng lấy đi đóa hoa hồng
và hoa cúc mà em thường hái
và dòng nước đột nhiên tuôn chảy
trong niềm vui rất sảng khoái của em
và cả con sóng bạc đột nhiên
con sóng này sinh ra từ em đó.
Anh trở về từ chông gai nghiệt ngã
đôi mắt của anh mệt mỏi, lừ đừ
vì lẽ đó đôi khi anh nhìn ra
rằng trái đất này không hề thay đổi
nhưng khi tiếng cười em cất lên sôi nổi
đi tìm anh, chợt cao vút lên trời
trước mặt anh có biết bao cánh cửa
mở toang ra cho anh bước vào đời.
Trong giờ tăm tối nhất, người yêu ơi
em hãy cất lên tiếng cười rộn rã
và nếu bỗng nhiên em nhìn thấy rõ
rằng dòng máu nóng của anh
rơi trên từng viên đá trên đường phố
thì em ơi hãy cười lên khi đó
vì tiếng cười của em sẽ trở thành
thanh kiếm sắc ở trong tay anh đó.
Vào mùa thu em đi về biển cả
thì em nhớ nhé hãy cười lên
tiếng cười em như bọt nước thác tràn
còn khi mùa xuân về, em yêu ạ
anh muốn tiếng cười của em rộn rã
như bông hoa mà anh vẫn chờ mong
những bông hoa màu xanh, những bông hồng
những bông hoa miền quê anh rộn rã.
Trong đêm tối hãy cười lên em nhé
giữa ánh sáng ngày, dưới ánh trăng thanh
cả những khi trên những con đường cong
lượn vòng quanh trên những hòn đảo nhỏ
em cứ việc cười cả cái chàng trai trẻ
dù vụng về, chàng trai đó yêu em
nhưng mỗi khi anh mở mắt ra nhìn
rồi sau đó đôi mắt anh nhắm lại
khi bước chân anh đi ra thiên hạ
rồi lại quay về những bước chân anh
cứ lấy đi cả ánh sáng, mùa xuân
cứ lấy đi cả bánh mì, không khí
nhưng đừng lấy đi tiếng cười của em
đừng bao giờ - không thì anh chết đó.
Tu Risa
Quitame el pan si quieres,
quitame el aire, pero
no me quites tu risa.
No me quites la rosa,
la lanza que desgranas,
el agua que de pronto
estalla en tu alegria,
la repentina ola
de planta que te nace.
Mi lucha es dura y vuelvo
con los ojos cansados
a veces de haber visto
la tierra que no cambia,
pero al entrar tu risa
sube al cielo buscandome
y abre para mi
todas las puertas de la vida.
Amor mio, en la hora
mas oscura desgrana
tu risa, y si de pronto
ves que mi sangre mancha
las piedras de la calle,
rie, porque tu risa
sera para mis manos
como una espada fresca.
Junto al mar en otono,
tu risa debe alzar
su cascada de espuma,
y en primavera, amor,
quiero tu risa como
la flor que yo esperaba,
la flor azul, la rosa
de mi patria sonora.
Riete de la noche,
del dia, de la luna,
riete de las calles
torcidas de la isla,
riete de este torpe
muchacho que te quiere,
pero cuando yo abro
los ojos y los cierro,
cuando mis pasos van,
cuando vuelven mis pasos,
niegame el pan, el aire,
la luz, la primavera,
pero tu risa nunca
porque me moriria.

NẾU ANH CHẾT
Nếu anh chết, thì em nhé, hãy lo
cho anh bằng một nỗi lo cuồng loạn
ánh mắt nhìn về phương Nam hãy ném
miệng hướng mặt trời vang như tiếng ghi ta.
Anh không muốn em cười ít đâu mà.
Em hãy vui – gia tài cho anh đó.
Đừng gọi anh, bởi anh không còn nữa.
Trong thiếu vắng anh như sống ở trong nhà.
Sự vắng mặt của anh – ngôi nhà rất to
xuyên qua tường, em vào nhà có thể
những bức tranh hãy treo như không khí.
Sự vắng mặt của anh – trong suốt ngôi nhà
anh thấy rõ ràng em sống ra sao trong đó
và anh sẽ chết lại nếu như em đau khổ.
Soneto XCIV
Si muero sobrevíveme con tanta fuerza pura
que despiertes la furia del pálido y del frío,
de sur a sur levanta tus ojos indelebles,
de sol a sol que suene tu boca de guitarra.
No quiero que vacilen tu risa ni tus pasos,
no quiero que se muera mi herencia de alegría,
no llames a mi pecho, estoy ausente.
Vive en mi ausencia como en una casa.
Es una casa tan grande la ausencia
que pasarás en ella a través de los muros
y colgarás los cuadros en el aire.
Es una casa tan transparente la ausencia
que yo sin vida te veré vivir
y si sufres, mi amor, me moriré otra vez.
Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống - Hồi ký
(Confieso que he vivido)
Giải thưởng Nobel
Giải thưởng Nobel của tôi có một lịch sử lâu dài. Trong nhiều năm, tên của tôi đã được gọi trong số các ứng cử viên cho giải thưởng, nhưng nó không dẫn đến điều gì.
Năm 1963, mọi thứ nghiêm trọng hơn nhiều. Một vài lần người ta thông báo trên đài phát thanh rằng ứng cử viên của tôi đang được thảo luận ở Stockholm và rằng tôi là ứng cử viên có khả năng nhất cho giải thưởng Nobel. Khi đó Matilde và tôi áp dụng kế hoạch số 3 về phòng thủ ở nhà. Chúng tôi treo một ổ khóa rất lớn ngoài cổng, dự trữ rất nhiều đồ ăn và rượu vang đỏ trong nhà. Tôi có một số cuốn tiểu thuyết trinh thám của Simenon cho trường hợp ở ẩn của chúng tôi.
Các nhà báo xuất hiện ngay sau đó nhưng họ đã phải dừng lại. Họ đã bị ngăn chặn bởi một ổ khóa bằng đồng tuyệt vời. Họ đi vòng gần hàng rào đá, giống như những con báo đốm. Họ hy vọng điều gì? Tôi đã có thể nói gì với họ về các cuộc tranh luận được dẫn dắt bởi các học giả Thụy Điển ở phía đầu kia của thế giới? Nhưng các nhà báo đã không từ bỏ hy vọng “vắt nước từ cây gậy khô”.
Mùa xuân đến muộn trên bờ biển Nam Thái Bình Dương. Những ngày vắng vẻ đã đưa tôi đến gần hơn với mùa xuân, dù muộn màng, trong trang phục tốt nhất của mùa xuân cho kỳ nghỉ vắng vẻ của mình. Rồi mùa hè không có một cơn mưa nào, đất cằn cỗi, không còn nhìn thấy một bãi cỏ xanh. Mùa đông, gió biển trút cơn giận dữ và bọt mặn vào những con sóng lớn. Mùa đông, thiên nhiên phô bày sự đau khổ của mình – nạn nhân của thời tiết dữ dằn, khắc nghiệt.
Mùa xuân cần mẫn khoác lên vỏ trái đất một màu vàng của vô số hoa. Nhỏ bé và không thể cưỡng lại, chúng quây quanh những vách đá rồi theo bờ dốc chúng tiếp cận mặt nước và bất chấp mọi thách thức, chúng bảo vệ quyền tồn tại, chuyển sang màu vàng rộm giữa những con đường. Bao nhiêu thời gian những bông hoa này đã sống một cuộc đời bí mật, bao nhiêu thời gian chúng bị vùng đất cằn cỗi từ chối, bây giờ chúng không biết làm thế nào để giữ cho màu vàng của chúng mãi rộng ra.
Nhưng sau đó, những bông hoa bắt đầu mờ dần, mờ dần và mọi thứ chuyển sang màu tím đậm. Mặt trời màu vàng của mùa xuân chuyển sang màu xanh và sau đó thành đỏ thẫm. Tại sao những cành hoa nhỏ bé, không thể đếm hết này lại nhường chỗ cho nhau? Hôm nay, một số màu sắc lóe lên trong gió, ngày mai lại những màu sắc khác. Như thể trên những ngọn đồi hoang vắng, những lá cờ có chủ quyền của Mùa xuân đang được thay thế, như thể đội quân xâm lược vội vàng giương cờ chiến trận.
Lúc này, xương rồng nở trên bờ biển. Nhỏ, tròn, trông chúng không giống như những cây xương rồng khổng lồ trên những ngọn núi xa xôi của dãy Andes. Tôi nhìn thấy xương rồng ven biển trong những nụ đỏ tươi, như thể bàn tay của ai đó đã tưới chúng bằng dòng máu hy sinh nóng bỏng. Sau đó, những nụ hoa mở ra, và hàng ngàn bông hoa màu đỏ thẫm cháy trên phông nền của những dốc biển khổng lồ phủ đầy bọt trắng.
Cây thùa trong vườn của tôi đã ném một bông hoa sát thủ từ ruột của nó. Trong vòng mười năm cái cây có màu xanh vàng này đã phát triển cao hơn tôi. Bây giờ nó đã nở hoa để chết. Ngọn giáo xanh mạnh mẽ của nó – cao bảy mét – bị chặn lại ở một vài nơi bởi những vòng hoa khô, đôi chỗ phủ bằng phấn hoa vàng. Sau đó, những chiếc lá khổng lồ sẽ bắt đầu gãy và cây thùa sẽ chết.
Bên cạnh cây thùa sắp chết, một cây khổng lồ khác đang được sinh ra. Cây này không hề có ở nước ngoài. Nó chỉ mọc ở đây, trên bờ biển phía nam của chúng tôi. Tên của nó là cây ăn thịt cừu (puya chilensis). Ngày xưa người Araucania tôn thờ cây ăn thịt cừu này. Từ lâu đã không còn những người Araucania dũng cảm – máu, cái chết, thời gian và rồi thiên sử thi của Alonso de Ercilla đã khép lại lịch sử của một bộ lạc cổ xưa có màu đất sét đen, từng tỉnh dậy từ một giấc mơ địa chất để bảo vệ quê hương mình. Khi tôi nhìn lại những bông hoa trỗi dậy qua nhiều thế kỷ của những cái chết đen tối không rõ, trên những lớp lãng quên nặng nề thấm đẫm máu, tôi ngỡ như quá khứ của vùng đất này đang nở rộ, nở rộ bất chấp những gì chúng ta đang có và ngày nay chúng ta đã trở thành. Chỉ có trái đất vẫn là chính mình, vẫn giữ bản chất của nó.
Nhưng tôi quên mô tả về cây này.
Nó có những chiếc lá lởm chởm sắc nhọn, và nó thuộc họ dứa. Cây mọc hai bên đường như một ngọn lửa xanh, tích hợp bên trong mình những thanh kiếm bí ẩn trong lõi của viên ngọc lục bảo. Rồi từ đó sinh ra một bông hoa khổng lồ, một bó, một bông hồng xanh có kích thước của một người đàn ông. Hàng trăm hoa hồng nhỏ được hợp nhất lại trong bông hoa cô đơn này, ngôi đền xanh này trong phấn hoa vàng, tỏa sáng trong ánh phản chiếu tươi sáng của biển. Không nơi nào tôi thấy một bông hoa xanh khổng lồ như vậy, trông giống như một tượng đài cô đơn của sóng biển.
Nông dân và ngư dân ở đất nước tôi từ lâu đã quên tên của nhiều loài hoa nhỏ. Tên của những bông hoa này dần dần phai mờ trong ký ức của con người và chúng không còn tự hào về bản thân, chúng ẩn mình trong những đám cỏ, giống như những viên đá mà các dòng sông mang từ đỉnh núi tuyết đến các bờ biển vô định. Nông dân và ngư dân, thợ mỏ và nhà buôn của chúng tôi bị kết án với số phận khắc nghiệt của mình, họ sẵn sàng chịu thất bại, sẵn sàng chết và hồi sinh những công việc khó khăn của họ. Số phận của những anh hùng trên những vùng đất chưa được khám phá vẫn chưa được biết đến. Trong chính họ, trong các bài hát của họ chỉ tỏa ra hồi quang của dòng máu không tên, sự rạng rỡ của những bông hoa không có tên.
Khu vườn của tôi có nhiều một trong những loài hoa như vậy – loài hoa có màu xanh, thân cây dài, mảnh, bóng và chắc. Ở phần cuối của thân cây run rẩy, rất nhiều loại hoa màu xanh lam và siêu xanh lắc lư. Tôi không biết những người phàm nào khác được phép nhìn thấy một màu xanh hoàn hảo như vậy. Có thể nó chỉ mở ra cho một số ít? Và nó sẽ vẫn vô hình với những người mà vị thần màu xanh không muốn xuất hiện? Và đột nhiên lý do cho tất cả mọi thứ là niềm vui của tôi, sinh ra từ sự cô đơn và ý thức tự hào rằng tôi đã có một cuộc gặp gỡ với màu xanh này, với những con sóng màu xanh này, với một ngôi sao màu xanh trong mùa xuân vắng vẻ đó?
Cuối cùng, tôi sẽ nói về bến cảng. Tôi không biết những bông hoa này vẫn mọc ở đâu. Hàng triệu ngón tay hình tam giác xanh đào vào bờ cát. Mùa xuân kết hợp chúng với những chiếc nhẫn rau dền có vẻ đẹp chưa từng thấy. Vào những ngày cuối xuân, cả làng Isla Negra đều tỏa sáng với những bông hoa này, chúng có tên bằng tiếng Hy Lạp là aizoaceae (họ phiên hạnh). Chúng văng lên bờ bằng cuộc xâm lấn của biển, món quà hào phóng của một hang động xanh dưới nước, thứ nước ép của các cụm màu tím được lưu giữ trong các tầng hầm của Hải Vương.
Vào lúc này trên đài phát thanh người ta thông báo rằng nhà thơ Hy Lạp đã được trao giải Nobel. Các nhà báo lập tức biến mất. Sự yên lặng đã trở lại với tôi và Matilde. Chúng tôi long trọng gỡ ổ khóa lớn ra khỏi cổng cũ, để cả thế giới lại sẽ bước vào nhà chúng tôi mà không cần gõ cửa, không báo trước. Như mùa xuân vậy.
Buổi tối, Ngài đại sứ Thụy Điển và vợ đã đến thăm chúng tôi. Tin rằng tôi sẽ trở thành người được giải Nobel, họ đã mang theo cả một giỏ rượu và những món đặc sản để ăn mừng chiến thắng của tôi. Bữa tối của chúng tôi không buồn một chút nào và chúng tôi đã uống ly rượu mừng cho nhà thơ Hy Lạp Seferis, người vừa được trao giải thưởng cao quí. Trước khi ra về, vị đại sứ đã kéo tôi sang một bên và nói:
-Tất nhiên rồi các nhà báo sẽ phỏng vấn tôi mà tôi thì không biết gì về điều này. Ngài làm ơn nói cho tôi biết Seferis là ai?
-Tôi cũng không biết – tôi trả lời rất chân thành.
Thành thật mà nói, bất kỳ nhà văn nào trên hành tinh của chúng ta được gọi là Trái đất đều muốn được nhận giải Nobel – cả những người im lặng về điều này và cả những người phủ nhận điều này.
Đối với Mỹ Latinh thì các quốc gia đều có các ứng cử viên, chiến thuật và kế hoạch riêng của mình để đạt được giải thưởng. Vì lý do này mà những người xứng đáng không nhận được giải thưởng. Ví dụ, Rómulo Gallegos. Di sản sáng tạo rộng lớn của ông là rất đáng nể. Nhưng Venezuela là đất nước của dầu mỏ, nói cách khác, một đất nước có đồng tiền mạnh, và với sự giúp đỡ của nó, người Venezuela đã quyết định tìm kiếm một giải thưởng. Một trong những đại sứ Venezuela ở Thụy Điển đã coi nhiệm vụ chính của mình là biến Rómulo Gallegos trở thành người được giải thưởng Nobel. Ông đã tổ chức các buổi tiệc tùng xa hoa, in các tác phẩm của các học giả Thụy Điển với các bản dịch sang tiếng Tây Ban Nha trong các nhà in ở Stockholm. Có lẽ sự nhanh nhẹn như vậy khiến người Thụy Điển kiềm chế và thận trọng. Rómulo Gallegos có lẽ không bao giờ phát hiện ra rằng sự nhiệt tình quá mức của đại sứ Venezuela đã ngăn cản ông nhận giải thưởng Văn học mà ông hoàn toàn xứng đáng.
Ở Paris, tôi không nhớ vì lý do gì, người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện buồn với một sự hài hước tàn nhẫn. Lần này là Paul Valéry. Ông được nói đến như là ứng cử viên có khả năng nhận giải Nobel cao nhất. Và rồi sáng hôm đó, khi Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, Paul Valéry muốn giữ sự bình tĩnh cho mình, đã gọi con chó và lấy cây gậy rời khỏi ngôi nhà ngoại ô để đi dạo.
Ông chỉ trở về vào buổi trưa để ăn trưa. Ngay khi vừa mở cửa, ông liền hỏi cô thư ký:
- Không có ai gọi cho tôi hả?
- Có, thưa ông. Vài phút trước có cuộc gọi từ Stockholm.
- Và họ đã nói gì với cô? Ông hỏi lại, không giấu được niềm vui.
- Một nữ nhà báo Thụy Điển quan tâm đến thái độ của ông về phong trào giải phóng phụ nữ.
Chính Valéry đã nói về điều này với sự mỉa mai nhẹ nhàng. Nhưng quả thật là như vậy, nhà thơ xuất sắc người Pháp, một bậc thầy đạt đến sự hoàn hảo đã không bao giờ được nhận giải Nobel.
Đối với tôi, người ta không thể không thừa nhận rằng tôi là người luôn thận trọng. Trong cuốn sách của một học giả người Chilê, người đã lên kế hoạch tôn vinh Gabriela Mistral, người đồng hương nghiêm khắc của chúng tôi, tôi đã đọc nhiều lá thư gửi đến những nơi khác nhau. Với tất cả sự kiềm chế cao quý, chị ấy đã ôm ấp một mong muốn hoàn toàn tự nhiên là tiếp cận giải thưởng Nobel. Những lá thư này dạy tôi thận trọng. Vì tên của tôi bắt đầu được gọi trong số các ứng cử viên (điều này không chỉ một lần), tôi đã không đến Thụy Điển, mặc dù tôi đã bị cuốn hút bởi tuổi trẻ của mình khi Tomás Lago và tôi tự hào gọi mình là những sinh viên bị trục xuất khỏi nhà thờ của mục sư, một người say rượu tên là Gosta Berling.
Ngoài ra, tôi đã chán ngấy việc người ta vẫn cứ xướng tên tôi trong số các ứng cử viên gần như hằng năm. Điều đó làm tôi bực mình vì trong những cuộc xét chọn thường niên này, tên của tôi được người ta sử dụng như thể tôi là một con ngựa đua. Mặt khác, các nhà văn Chilê vẫn tin rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển đã gây ra một sự xúc phạm cá nhân đối với họ. Nói một cách dễ hiểu, trong một tình huống như vậy, rất dễ bị rơi vào cảnh buồn cười và khó xử.
Cuối cùng, như mọi người đều đã biết, năm 1971 tôi đã được trao giải Nobel. Tôi vừa đến Paris với tư cách là Đại sứ Chilê, khi tên tôi lại xuất hiện trên báo. Matilde và tôi không vui chút nào. Thói quen thất vọng hàng năm khiến chúng tôi không nhạy cảm với mọi thứ liên quan đến giải thưởng này. Một buổi tối tháng 10, Jorge Edward, cố vấn văn hóa của Đại sứ quán và nhà văn của chúng tôi bước vào phòng ăn. Với sự thận trọng thông thường của mình, anh ấy đã đề xuất với tôi một vụ cá cược khá khiêm tốn. Nếu người ta trao cho tôi giải Nobel năm đó, tôi sẽ trả tiền ăn tối tại một nhà hàng tốt nhất ở Paris, tôi mời anh ấy và vợ của anh. Nếu không, anh ấy sẽ trả tiền cho một bữa ăn trưa mà tôi sẽ cùng dự với Matilde.
- Nhất trí – tôi trả lời – chúng tôi sẽ có một bữa trưa tuyệt vời với chi phí của anh.
Ngày hôm sau, tôi nhận ra lý do Edward quyết định đặt cược điều này. Hóa ra anh ấy được một người bạn là nhà văn, nhà báo gọi từ Stockholm, người này nói rằng chắc chắn lần này Pablo Neruda sẽ nhận giải Nobel.
Những cuộc gọi điện thoại đường dài bắt đầu nhộn nhịp. Các nhà báo gọi từ Buenos Aires, từ Mexico và đặc biệt là từ Tây Ban Nha. Tất nhiên, tôi từ chối mọi lời giải thích về chủ đề này, nhưng sự nghi ngờ xuất hiện trở lại trong lòng tôi.
Tối hôm đó, Artur Lundqvist, nhà văn Thụy Điển duy nhất mà tôi kết thân, đến thăm tôi. Ba hoặc bốn năm trước gì đó anh được bầu vào Viện Hàn lâm. Anh đã ghé Paris trên đường đi đến miền nam nước Pháp. Sau bữa tối, tôi nói với anh ấy rằng thật khó khăn khi tôi nói chuyện với các nhà báo nước ngoài, những người đã gán giải thưởng Nobel cho tôi trước đó.
- Artur, tôi muốn hỏi bạn một vài thứ – tôi nói – trong trường hợp điều này là đúng, tôi rất muốn biết trước khi báo chí đăng tải nó. Trước tiên tôi muốn nói với Salvador Allende, người mà tôi đã sát cánh trong nhiều cuộc đấu tranh. Anh ấy sẽ rất vui mừng khi là người đầu tiên nhận được tin tức.
Nhà học giả, nhà thơ Lundqvist nhìn tôi bằng đôi mắt Thụy Điển và nói rất nghiêm túc:
- Tôi không thể nói cho bạn bất cứ điều gì. Nếu có bất cứ điều gì xảy ra, nhà vua Thụy Điển hoặc đại sứ Thụy Điển tại Paris sẽ thông báo ngay cho bạn.
Điều này xảy ra vào ngày 19 và 20 tháng 10. Vào sáng ngày 21, hội trường của các Đại sứ quán bắt đầu chật kín các nhà báo. Các nhà điều hành của các nước Thụy Điển, Đức, Pháp và Mỹ Latinh cho thấy một sự thiếu kiên nhẫn, dọa sẽ nổi loạn chống lại sự im lặng cứng đầu của tôi. Nhưng tôi im lặng, vì tôi không biết gì cả.
Lúc mười một giờ rưỡi, tôi được đại sứ Thụy Điển gọi điện mà không biết trước được nó là gì. Cuộc gọi không giúp làm dịu tâm trạng vì cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra hai giờ sau đó. Điện thoại cứ reo liên hồi.
Vào thời điểm đó một trong những Đài phát thanh ở Paris đã phát đi tin tức vào phút cuối: “Giải Nobel Văn học năm 1971 sẽ được trao cho nhà thơ Chile Pablo Neruda”. Tôi lập tức xuống gặp mặt trực tiếp với một đội quân lớn gồm các nhà báo, nhiếp ảnh gia, nhân viên truyền hình. May mắn thay, những người bạn cũ của tôi đã đến đại sứ quán – Jean Marsenac và Louis Aragon. Marsenac, nhà thơ người Pháp mà tôi yêu mến đã hét lên vì sung sướng. Aragon còn hài lòng hơn tôi rất nhiều. Cả hai đều giúp tôi đối phó với các phóng viên.
Tôi vừa mới trải qua một ca phẫu thuật gần đây, tôi vẫn còn yếu, khó khăn đứng trên đôi chân của mình và do dự khi di chuyển. Bạn bè của tôi tụ tập ăn tối vào tối hôm đó: Matta đến từ Ý, Garcia Marquez từ Barcelona, Siqueiros từ Mexico City, Miguel Otero Silva từ Caracas, Arturo Camacho Ramirez từ chính Paris, Cortazar – từ nơi ẩn náu bí mật của anh ấy. Và một người Chilê khác – Carlos Vasallo, cùng anh ta, chúng tôi phải đến Stockholm.
Trên bàn của tôi có cả núi những bức điện mừng (tôi chưa đọc hết và trả lời tất cả được). Trong vô số các bức thư này có một bức thư rất tò mò và có tính chất đe dọa. Bức thư này do một quý ông gốc người da đen gửi từ Hà Lan. Bức thư đại loại như sau: “Tôi là đại diện của phong trào chống thực dân ở Georgetown. Tôi yêu cầu ông mời tôi đến buổi lễ được tổ chức tại Stockholm nhân dịp trao giải thưởng Nobel cho ông. Đại sứ quán Thụy Điển cảnh báo với tôi rằng muốn dự lễ phải có áo khoác đuôi tôm. Tôi không có tiền cho áo khoác đuôi tôm và tôi không bao giờ đi thuê nó vì thật nhục nhã cho người Mỹ tự do mặc quần áo đã qua sử dụng. Đó là lý do tôi muốn thông báo với ông rằng với số tiền khiêm tốn mà tôi đã tiết kiệm được, tôi sẽ đến Stockholm tổ chức một cuộc phỏng vấn báo chí và sẽ tố cáo, phơi bày bản chất của chủ nghĩa đế quốc trong buổi lễ sẽ được tổ chức để vinh danh nhà thơ nổi tiếng chống đế quốc và nổi tiếng nhất thế giới”.
Vào tháng 11 Matilde và tôi đã đến Stockholm. Chúng tôi đi cùng với một số người bạn cũ. Chúng tôi được ở trong khách sạn Grand sang trọng. Từ cửa sổ nhìn ra thành phố lạnh lẽo xinh đẹp, cung điện hoàng gia. Những người đoạt giải ở các lĩnh vực khác của năm nay, các nhà vật lý, hóa học, bác sĩ, v.v… cũng ở trong khách sạn Grand. Đây là những người rất khác nhau về tính cách. Một số thích trang trọng và nghi lễ, số khác lại thích đơn giản và khiêm tốn… Willy Brandt người Đức không có mặt ở khách sạn, ông sẽ nhận giải Nobel Hòa bình ở Na Uy. Tôi thấy tiếc vì đó là người mà tôi thực sự muốn gặp và nói chuyện. Sau đó tôi thấy ông ở các buổi tiếp tân, nhưng chúng tôi luôn bị một số người cản trở.
Buổi lễ sẽ được tổ chức sau buổi diễn tập, theo nghi thức của Thụy Điển, diễn ra tại hội trường nơi giải thưởng sẽ được trao. Thật buồn cười khi thấy chúng tôi, những người khá nghiêm túc, trước khi ra khỏi giường, vội vã rời khỏi khách sạn để đến cung điện đúng thời gian đã hẹn, leo lên cầu thang, không lẫn bất cứ thứ gì, rẽ phải hoặc trái, sau đó leo lên sân khấu và ngồi vào chiếc ghế mà bạn sẽ tham gia vào ngày trao giải. Và tất cả những điều này – trước máy quay truyền hình, trong một hội trường trống rỗng rộng lớn, nơi phô trương ngai vàng cũng u sầu và trống rỗng của nhà vua và nơi tôn vinh của hoàng gia. Tôi vẫn không hiểu tại sao truyền hình Thụy Điển quyết định quay một buổi diễn tập mà các diễn viên tệ hại như vậy tham gia.
Giải thưởng được trao vào ngày lễ Thánh Lucia. Những tiếng hát trong trẻo nhẹ nhàng từ hành lang đã đánh thức tôi dậy. Sau đó, các cô gái Scandinavia tóc vàng đội vương miện bằng vòng hoa và nến thắp sáng bước vào phòng tôi. Họ mang cho tôi bữa sáng và món quà – một bức tranh dài và đẹp mô tả cảnh biển.
Ít lâu sau đó, một sự cố đã xảy ra khiến lực lượng cảnh sát Stockholm lo lắng. Từ Phòng Lễ tân của khách sạn người ta đưa cho tôi một bức thư do một người chống thực dân quyết liệt từ Georgetown thuộc Hà Lan ký tên. “Tôi vừa mới đến Stockholm – bức thư viết – tôi không thể tổ chức cuộc họp báo, nhưng với tư cách là một nhà hành động cách mạng, tôi đã thực hiện các biện pháp khác. Chúng tôi không cho phép Pablo Neruda – nhà thơ của những người bị sỉ nhục và bị áp bức – mặc áo khoác đuôi tôm nhận giải thưởng Nobel”. “Đó là lý do tại vì sao anh ta mua chiếc kéo màu xanh lá cây để trước mặt toàn bộ công chúng đáng kính sẽ cắt phần đuôi và các phần khác từ áo khoác đuôi tôm. Tôi có nhiệm vụ cảnh báo cho ông về điều này. Khi ông thấy một người đàn ông da đen với chiếc kéo lớn màu xanh lá cây đứng lên từ chỗ ngồi cuối hội trường thì ông biết điều gì sẽ xảy ra với hắn”.
Tôi đưa bức thư kỳ lạ này cho nhà ngoại giao của Phòng Lễ tân đi cùng tôi và cười nói với anh ta rằng lá thư đầu tiên từ kẻ lập dị này tôi đã nhận ở Paris và theo tôi, điều này là vớ vẩn, không nên được coi trọng. Người Thụy Điển trẻ tuổi không chia sẻ ý kiến của tôi.
“Trong thời đại căng thẳng của chúng ta, những điều bất ngờ nhất có thể xảy ra. Nhiệm vụ của tôi là báo cho cảnh sát Stockholm” Anh ta nói, và sau đó đi làm những việc mà anh ta coi là nhiệm vụ của mình.
Cần phải nói một điều rằng, có nhà văn, nhà thơ Miguel Otero Silva người Venezuela đã đến Stockholm với tôi. Người đàn ông này đối với tôi không chỉ là lương tâm và trí tuệ của Mỹ Latinh mà anh ấy còn là người bạn thân và người bạn đồng hành trung thành của tôi. Một vài giờ trước khi buổi lễ diễn ra, trong bữa ăn trưa tôi nói rằng người Thụy Điển đã lo lắng trước bức thư mà một người dân ở Georgetown gửi cho tôi. Miguel Otero Silva – anh ấy ăn trưa với chúng tôi – đã tự tát vào trán và kêu lên:
- Đấy là bức thư tôi viết để trêu bạn đấy, Pablo ạ. Biết làm gì với cảnh sát bây giờ, họ đang tìm kiếm một người không có thật?
- Họ sẽ tống bạn vào tù. Chỉ những kẻ man rợ mới có khả năng đùa như vậy, và bạn sẽ phải chịu một hình phạt xứng đáng dành cho người đàn ông Georgetown – tôi đã nói với anh ta như vậy.
Lúc này nhà ngoại giao Thụy Điển trẻ tuổi của tôi đã quay trở lại. Anh ấy vừa đi báo cáo với chính quyền về bức thư kia. Không ngần ngại, chúng tôi thú nhận với anh ấy mọi thứ:
- Đây là một trò đùa không phù hợp, ngu ngốc. Tác giả của bức thư ngồi cùng bàn với chúng tôi đây này.
Thế là anh ấy lại vội vã đi đâu đó. Nhưng cảnh sát đã tìm kiếm người đàn ông da đen từ Georgetown trong tất cả các khách sạn ở Stockholm.
Tất cả các biện pháp phòng ngừa được tuân thủ nghiêm ngặt. Khi Matilde và tôi bước vào hội trường nơi diễn ra buổi lễ, và khi chúng tôi bước ra từ vũ hội chào mừng, thay vì một người thư ký như thông thường, chúng tôi được những người vệ sĩ trẻ tuổi cao lớn đứng gần – họ được lệnh không để một người đàn ông nào cầm chiếc kéo màu xanh đến gần tôi.
Tại lễ trao giải Nobel truyền thống có một lượng khán giả đông đảo và kỷ luật, chỉ vỗ tay một cách lịch sự ở nơi mà nó được cho là cần thiết. Vị Quốc vương già cả bắt tay từng người đoạt giải, trao bằng chứng nhận, huy chương vàng và tấm séc. Sau đó chúng tôi trở lại sân khấu trang trí đầy hoa, giờ đã bớt khó chịu hơn so với những ngày diễn tập. Tất cả những người đoạt giải Nobel ngồi trong ghế bành. Người ta nói (hoặc có lẽ chỉ muốn làm hài lòng Matilde) rằng nhà vua Thụy Điển đã dành cho tôi nhiều thời gian hơn những người khác, rằng Ngài đã bắt tay tôi lâu hơn những người khác, và nói chung là Ngài có cảm tình đặc biệt với tôi. Đây hẳn là truyền thống từ quá khứ xa xôi, khi các vị vua cho phép mình trở nên hòa nhã với những người hát rong. Không biết có phải như vậy không, nhưng không có vị vua nào khác bắt tay tôi, dù là vội vàng hoặc với sự tôn kính.
Nghi thức nghiêm ngặt này chắc chắn là rất long trọng. Dường như sự trang trọng đi kèm với nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc sống của chúng ta sẽ không bao giờ biến mất. Vì rằng con người ta cần đến nó. Tuy nhiên tôi cảm thấy rằng có một sự tương đồng rất buồn cười giữa cuộc diễu hành của những người đoạt giải Nobel và việc trao giải thưởng cho các em học sinh ở một thị trấn nhỏ.
==
Chú thích những tên riêng được nhắc đến trong bài viết:
*Georges Simenon (1903 – 1989) – Nhà văn Bỉ rất nổi tiếng với truyện trinh thám.
*Alonso de Ercilla (1533 – 1594) – Nhà thơ Tây Ban Nha, tác giả của bộ sử thi “La Araucana”.
*Giorgos Seferis (1900 – 1971) – Nhà ngoại giao, nhà thơ Hy Lạp đoạt giải Nobel năm 1963.
*Rómulo Gallegos (1884 – 1969) – Tổng thống Venezuela năm 1948, nhà văn Venezuela.
*Paul Valéry (1871 – 1945) – Nhà thơ Pháp
*Tomás Lago (1903 – 1975) – Nhà thơ Chilê, bạn thời trẻ của Pablo Neruda
*Gösta Berling – Nhân vật trong tác phẩm “Truyền thuyết về Gösta Berling” (Gösta Berlings saga) của nữ nhà văn Thụy Điển Selma Lagerlöf
*Jean Marsenac (1913 – 1984) – Nhà thơ Pháp
*Louis Aragon (1897 – 1982) – Nhà thơ Pháp
*Artur Lundqvist (1906 – 1991) – Nhà văn, nhà thơ Thụy Điển
*Salvador Allende (1908 – 1973) – Chính khách, Tổng thống Chilê từ 3 tháng 11 năm 1970 cho đến ngày đảo chính quân sự và bị giết chết
*Roberto Matta (1911 – 2002) – Họa sĩ người Chilê
*Miguel Otero Silva (1908 – 1985) – Nhà văn, nhà thơ Venezuela
*Arturo Camacho Ramirez (1910 – 1982) – Nhà thơ Columbia
Xem tiếp ở đây:
Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống (Confieso que he vivido)
(Confieso que he vivido)
Giải thưởng Nobel
Giải thưởng Nobel của tôi có một lịch sử lâu dài. Trong nhiều năm, tên của tôi đã được gọi trong số các ứng cử viên cho giải thưởng, nhưng nó không dẫn đến điều gì.
Năm 1963, mọi thứ nghiêm trọng hơn nhiều. Một vài lần người ta thông báo trên đài phát thanh rằng ứng cử viên của tôi đang được thảo luận ở Stockholm và rằng tôi là ứng cử viên có khả năng nhất cho giải thưởng Nobel. Khi đó Matilde và tôi áp dụng kế hoạch số 3 về phòng thủ ở nhà. Chúng tôi treo một ổ khóa rất lớn ngoài cổng, dự trữ rất nhiều đồ ăn và rượu vang đỏ trong nhà. Tôi có một số cuốn tiểu thuyết trinh thám của Simenon cho trường hợp ở ẩn của chúng tôi.
Các nhà báo xuất hiện ngay sau đó nhưng họ đã phải dừng lại. Họ đã bị ngăn chặn bởi một ổ khóa bằng đồng tuyệt vời. Họ đi vòng gần hàng rào đá, giống như những con báo đốm. Họ hy vọng điều gì? Tôi đã có thể nói gì với họ về các cuộc tranh luận được dẫn dắt bởi các học giả Thụy Điển ở phía đầu kia của thế giới? Nhưng các nhà báo đã không từ bỏ hy vọng “vắt nước từ cây gậy khô”.
Mùa xuân đến muộn trên bờ biển Nam Thái Bình Dương. Những ngày vắng vẻ đã đưa tôi đến gần hơn với mùa xuân, dù muộn màng, trong trang phục tốt nhất của mùa xuân cho kỳ nghỉ vắng vẻ của mình. Rồi mùa hè không có một cơn mưa nào, đất cằn cỗi, không còn nhìn thấy một bãi cỏ xanh. Mùa đông, gió biển trút cơn giận dữ và bọt mặn vào những con sóng lớn. Mùa đông, thiên nhiên phô bày sự đau khổ của mình – nạn nhân của thời tiết dữ dằn, khắc nghiệt.
Mùa xuân cần mẫn khoác lên vỏ trái đất một màu vàng của vô số hoa. Nhỏ bé và không thể cưỡng lại, chúng quây quanh những vách đá rồi theo bờ dốc chúng tiếp cận mặt nước và bất chấp mọi thách thức, chúng bảo vệ quyền tồn tại, chuyển sang màu vàng rộm giữa những con đường. Bao nhiêu thời gian những bông hoa này đã sống một cuộc đời bí mật, bao nhiêu thời gian chúng bị vùng đất cằn cỗi từ chối, bây giờ chúng không biết làm thế nào để giữ cho màu vàng của chúng mãi rộng ra.
Nhưng sau đó, những bông hoa bắt đầu mờ dần, mờ dần và mọi thứ chuyển sang màu tím đậm. Mặt trời màu vàng của mùa xuân chuyển sang màu xanh và sau đó thành đỏ thẫm. Tại sao những cành hoa nhỏ bé, không thể đếm hết này lại nhường chỗ cho nhau? Hôm nay, một số màu sắc lóe lên trong gió, ngày mai lại những màu sắc khác. Như thể trên những ngọn đồi hoang vắng, những lá cờ có chủ quyền của Mùa xuân đang được thay thế, như thể đội quân xâm lược vội vàng giương cờ chiến trận.
Lúc này, xương rồng nở trên bờ biển. Nhỏ, tròn, trông chúng không giống như những cây xương rồng khổng lồ trên những ngọn núi xa xôi của dãy Andes. Tôi nhìn thấy xương rồng ven biển trong những nụ đỏ tươi, như thể bàn tay của ai đó đã tưới chúng bằng dòng máu hy sinh nóng bỏng. Sau đó, những nụ hoa mở ra, và hàng ngàn bông hoa màu đỏ thẫm cháy trên phông nền của những dốc biển khổng lồ phủ đầy bọt trắng.
Cây thùa trong vườn của tôi đã ném một bông hoa sát thủ từ ruột của nó. Trong vòng mười năm cái cây có màu xanh vàng này đã phát triển cao hơn tôi. Bây giờ nó đã nở hoa để chết. Ngọn giáo xanh mạnh mẽ của nó – cao bảy mét – bị chặn lại ở một vài nơi bởi những vòng hoa khô, đôi chỗ phủ bằng phấn hoa vàng. Sau đó, những chiếc lá khổng lồ sẽ bắt đầu gãy và cây thùa sẽ chết.
Bên cạnh cây thùa sắp chết, một cây khổng lồ khác đang được sinh ra. Cây này không hề có ở nước ngoài. Nó chỉ mọc ở đây, trên bờ biển phía nam của chúng tôi. Tên của nó là cây ăn thịt cừu (puya chilensis). Ngày xưa người Araucania tôn thờ cây ăn thịt cừu này. Từ lâu đã không còn những người Araucania dũng cảm – máu, cái chết, thời gian và rồi thiên sử thi của Alonso de Ercilla đã khép lại lịch sử của một bộ lạc cổ xưa có màu đất sét đen, từng tỉnh dậy từ một giấc mơ địa chất để bảo vệ quê hương mình. Khi tôi nhìn lại những bông hoa trỗi dậy qua nhiều thế kỷ của những cái chết đen tối không rõ, trên những lớp lãng quên nặng nề thấm đẫm máu, tôi ngỡ như quá khứ của vùng đất này đang nở rộ, nở rộ bất chấp những gì chúng ta đang có và ngày nay chúng ta đã trở thành. Chỉ có trái đất vẫn là chính mình, vẫn giữ bản chất của nó.
Nhưng tôi quên mô tả về cây này.
Nó có những chiếc lá lởm chởm sắc nhọn, và nó thuộc họ dứa. Cây mọc hai bên đường như một ngọn lửa xanh, tích hợp bên trong mình những thanh kiếm bí ẩn trong lõi của viên ngọc lục bảo. Rồi từ đó sinh ra một bông hoa khổng lồ, một bó, một bông hồng xanh có kích thước của một người đàn ông. Hàng trăm hoa hồng nhỏ được hợp nhất lại trong bông hoa cô đơn này, ngôi đền xanh này trong phấn hoa vàng, tỏa sáng trong ánh phản chiếu tươi sáng của biển. Không nơi nào tôi thấy một bông hoa xanh khổng lồ như vậy, trông giống như một tượng đài cô đơn của sóng biển.
Nông dân và ngư dân ở đất nước tôi từ lâu đã quên tên của nhiều loài hoa nhỏ. Tên của những bông hoa này dần dần phai mờ trong ký ức của con người và chúng không còn tự hào về bản thân, chúng ẩn mình trong những đám cỏ, giống như những viên đá mà các dòng sông mang từ đỉnh núi tuyết đến các bờ biển vô định. Nông dân và ngư dân, thợ mỏ và nhà buôn của chúng tôi bị kết án với số phận khắc nghiệt của mình, họ sẵn sàng chịu thất bại, sẵn sàng chết và hồi sinh những công việc khó khăn của họ. Số phận của những anh hùng trên những vùng đất chưa được khám phá vẫn chưa được biết đến. Trong chính họ, trong các bài hát của họ chỉ tỏa ra hồi quang của dòng máu không tên, sự rạng rỡ của những bông hoa không có tên.
Khu vườn của tôi có nhiều một trong những loài hoa như vậy – loài hoa có màu xanh, thân cây dài, mảnh, bóng và chắc. Ở phần cuối của thân cây run rẩy, rất nhiều loại hoa màu xanh lam và siêu xanh lắc lư. Tôi không biết những người phàm nào khác được phép nhìn thấy một màu xanh hoàn hảo như vậy. Có thể nó chỉ mở ra cho một số ít? Và nó sẽ vẫn vô hình với những người mà vị thần màu xanh không muốn xuất hiện? Và đột nhiên lý do cho tất cả mọi thứ là niềm vui của tôi, sinh ra từ sự cô đơn và ý thức tự hào rằng tôi đã có một cuộc gặp gỡ với màu xanh này, với những con sóng màu xanh này, với một ngôi sao màu xanh trong mùa xuân vắng vẻ đó?
Cuối cùng, tôi sẽ nói về bến cảng. Tôi không biết những bông hoa này vẫn mọc ở đâu. Hàng triệu ngón tay hình tam giác xanh đào vào bờ cát. Mùa xuân kết hợp chúng với những chiếc nhẫn rau dền có vẻ đẹp chưa từng thấy. Vào những ngày cuối xuân, cả làng Isla Negra đều tỏa sáng với những bông hoa này, chúng có tên bằng tiếng Hy Lạp là aizoaceae (họ phiên hạnh). Chúng văng lên bờ bằng cuộc xâm lấn của biển, món quà hào phóng của một hang động xanh dưới nước, thứ nước ép của các cụm màu tím được lưu giữ trong các tầng hầm của Hải Vương.
Vào lúc này trên đài phát thanh người ta thông báo rằng nhà thơ Hy Lạp đã được trao giải Nobel. Các nhà báo lập tức biến mất. Sự yên lặng đã trở lại với tôi và Matilde. Chúng tôi long trọng gỡ ổ khóa lớn ra khỏi cổng cũ, để cả thế giới lại sẽ bước vào nhà chúng tôi mà không cần gõ cửa, không báo trước. Như mùa xuân vậy.
Buổi tối, Ngài đại sứ Thụy Điển và vợ đã đến thăm chúng tôi. Tin rằng tôi sẽ trở thành người được giải Nobel, họ đã mang theo cả một giỏ rượu và những món đặc sản để ăn mừng chiến thắng của tôi. Bữa tối của chúng tôi không buồn một chút nào và chúng tôi đã uống ly rượu mừng cho nhà thơ Hy Lạp Seferis, người vừa được trao giải thưởng cao quí. Trước khi ra về, vị đại sứ đã kéo tôi sang một bên và nói:
-Tất nhiên rồi các nhà báo sẽ phỏng vấn tôi mà tôi thì không biết gì về điều này. Ngài làm ơn nói cho tôi biết Seferis là ai?
-Tôi cũng không biết – tôi trả lời rất chân thành.
Thành thật mà nói, bất kỳ nhà văn nào trên hành tinh của chúng ta được gọi là Trái đất đều muốn được nhận giải Nobel – cả những người im lặng về điều này và cả những người phủ nhận điều này.
Đối với Mỹ Latinh thì các quốc gia đều có các ứng cử viên, chiến thuật và kế hoạch riêng của mình để đạt được giải thưởng. Vì lý do này mà những người xứng đáng không nhận được giải thưởng. Ví dụ, Rómulo Gallegos. Di sản sáng tạo rộng lớn của ông là rất đáng nể. Nhưng Venezuela là đất nước của dầu mỏ, nói cách khác, một đất nước có đồng tiền mạnh, và với sự giúp đỡ của nó, người Venezuela đã quyết định tìm kiếm một giải thưởng. Một trong những đại sứ Venezuela ở Thụy Điển đã coi nhiệm vụ chính của mình là biến Rómulo Gallegos trở thành người được giải thưởng Nobel. Ông đã tổ chức các buổi tiệc tùng xa hoa, in các tác phẩm của các học giả Thụy Điển với các bản dịch sang tiếng Tây Ban Nha trong các nhà in ở Stockholm. Có lẽ sự nhanh nhẹn như vậy khiến người Thụy Điển kiềm chế và thận trọng. Rómulo Gallegos có lẽ không bao giờ phát hiện ra rằng sự nhiệt tình quá mức của đại sứ Venezuela đã ngăn cản ông nhận giải thưởng Văn học mà ông hoàn toàn xứng đáng.
Ở Paris, tôi không nhớ vì lý do gì, người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện buồn với một sự hài hước tàn nhẫn. Lần này là Paul Valéry. Ông được nói đến như là ứng cử viên có khả năng nhận giải Nobel cao nhất. Và rồi sáng hôm đó, khi Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, Paul Valéry muốn giữ sự bình tĩnh cho mình, đã gọi con chó và lấy cây gậy rời khỏi ngôi nhà ngoại ô để đi dạo.
Ông chỉ trở về vào buổi trưa để ăn trưa. Ngay khi vừa mở cửa, ông liền hỏi cô thư ký:
- Không có ai gọi cho tôi hả?
- Có, thưa ông. Vài phút trước có cuộc gọi từ Stockholm.
- Và họ đã nói gì với cô? Ông hỏi lại, không giấu được niềm vui.
- Một nữ nhà báo Thụy Điển quan tâm đến thái độ của ông về phong trào giải phóng phụ nữ.
Chính Valéry đã nói về điều này với sự mỉa mai nhẹ nhàng. Nhưng quả thật là như vậy, nhà thơ xuất sắc người Pháp, một bậc thầy đạt đến sự hoàn hảo đã không bao giờ được nhận giải Nobel.
Đối với tôi, người ta không thể không thừa nhận rằng tôi là người luôn thận trọng. Trong cuốn sách của một học giả người Chilê, người đã lên kế hoạch tôn vinh Gabriela Mistral, người đồng hương nghiêm khắc của chúng tôi, tôi đã đọc nhiều lá thư gửi đến những nơi khác nhau. Với tất cả sự kiềm chế cao quý, chị ấy đã ôm ấp một mong muốn hoàn toàn tự nhiên là tiếp cận giải thưởng Nobel. Những lá thư này dạy tôi thận trọng. Vì tên của tôi bắt đầu được gọi trong số các ứng cử viên (điều này không chỉ một lần), tôi đã không đến Thụy Điển, mặc dù tôi đã bị cuốn hút bởi tuổi trẻ của mình khi Tomás Lago và tôi tự hào gọi mình là những sinh viên bị trục xuất khỏi nhà thờ của mục sư, một người say rượu tên là Gosta Berling.
Ngoài ra, tôi đã chán ngấy việc người ta vẫn cứ xướng tên tôi trong số các ứng cử viên gần như hằng năm. Điều đó làm tôi bực mình vì trong những cuộc xét chọn thường niên này, tên của tôi được người ta sử dụng như thể tôi là một con ngựa đua. Mặt khác, các nhà văn Chilê vẫn tin rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển đã gây ra một sự xúc phạm cá nhân đối với họ. Nói một cách dễ hiểu, trong một tình huống như vậy, rất dễ bị rơi vào cảnh buồn cười và khó xử.
Cuối cùng, như mọi người đều đã biết, năm 1971 tôi đã được trao giải Nobel. Tôi vừa đến Paris với tư cách là Đại sứ Chilê, khi tên tôi lại xuất hiện trên báo. Matilde và tôi không vui chút nào. Thói quen thất vọng hàng năm khiến chúng tôi không nhạy cảm với mọi thứ liên quan đến giải thưởng này. Một buổi tối tháng 10, Jorge Edward, cố vấn văn hóa của Đại sứ quán và nhà văn của chúng tôi bước vào phòng ăn. Với sự thận trọng thông thường của mình, anh ấy đã đề xuất với tôi một vụ cá cược khá khiêm tốn. Nếu người ta trao cho tôi giải Nobel năm đó, tôi sẽ trả tiền ăn tối tại một nhà hàng tốt nhất ở Paris, tôi mời anh ấy và vợ của anh. Nếu không, anh ấy sẽ trả tiền cho một bữa ăn trưa mà tôi sẽ cùng dự với Matilde.
- Nhất trí – tôi trả lời – chúng tôi sẽ có một bữa trưa tuyệt vời với chi phí của anh.
Ngày hôm sau, tôi nhận ra lý do Edward quyết định đặt cược điều này. Hóa ra anh ấy được một người bạn là nhà văn, nhà báo gọi từ Stockholm, người này nói rằng chắc chắn lần này Pablo Neruda sẽ nhận giải Nobel.
Những cuộc gọi điện thoại đường dài bắt đầu nhộn nhịp. Các nhà báo gọi từ Buenos Aires, từ Mexico và đặc biệt là từ Tây Ban Nha. Tất nhiên, tôi từ chối mọi lời giải thích về chủ đề này, nhưng sự nghi ngờ xuất hiện trở lại trong lòng tôi.
Tối hôm đó, Artur Lundqvist, nhà văn Thụy Điển duy nhất mà tôi kết thân, đến thăm tôi. Ba hoặc bốn năm trước gì đó anh được bầu vào Viện Hàn lâm. Anh đã ghé Paris trên đường đi đến miền nam nước Pháp. Sau bữa tối, tôi nói với anh ấy rằng thật khó khăn khi tôi nói chuyện với các nhà báo nước ngoài, những người đã gán giải thưởng Nobel cho tôi trước đó.
- Artur, tôi muốn hỏi bạn một vài thứ – tôi nói – trong trường hợp điều này là đúng, tôi rất muốn biết trước khi báo chí đăng tải nó. Trước tiên tôi muốn nói với Salvador Allende, người mà tôi đã sát cánh trong nhiều cuộc đấu tranh. Anh ấy sẽ rất vui mừng khi là người đầu tiên nhận được tin tức.
Nhà học giả, nhà thơ Lundqvist nhìn tôi bằng đôi mắt Thụy Điển và nói rất nghiêm túc:
- Tôi không thể nói cho bạn bất cứ điều gì. Nếu có bất cứ điều gì xảy ra, nhà vua Thụy Điển hoặc đại sứ Thụy Điển tại Paris sẽ thông báo ngay cho bạn.
Điều này xảy ra vào ngày 19 và 20 tháng 10. Vào sáng ngày 21, hội trường của các Đại sứ quán bắt đầu chật kín các nhà báo. Các nhà điều hành của các nước Thụy Điển, Đức, Pháp và Mỹ Latinh cho thấy một sự thiếu kiên nhẫn, dọa sẽ nổi loạn chống lại sự im lặng cứng đầu của tôi. Nhưng tôi im lặng, vì tôi không biết gì cả.
Lúc mười một giờ rưỡi, tôi được đại sứ Thụy Điển gọi điện mà không biết trước được nó là gì. Cuộc gọi không giúp làm dịu tâm trạng vì cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra hai giờ sau đó. Điện thoại cứ reo liên hồi.
Vào thời điểm đó một trong những Đài phát thanh ở Paris đã phát đi tin tức vào phút cuối: “Giải Nobel Văn học năm 1971 sẽ được trao cho nhà thơ Chile Pablo Neruda”. Tôi lập tức xuống gặp mặt trực tiếp với một đội quân lớn gồm các nhà báo, nhiếp ảnh gia, nhân viên truyền hình. May mắn thay, những người bạn cũ của tôi đã đến đại sứ quán – Jean Marsenac và Louis Aragon. Marsenac, nhà thơ người Pháp mà tôi yêu mến đã hét lên vì sung sướng. Aragon còn hài lòng hơn tôi rất nhiều. Cả hai đều giúp tôi đối phó với các phóng viên.
Tôi vừa mới trải qua một ca phẫu thuật gần đây, tôi vẫn còn yếu, khó khăn đứng trên đôi chân của mình và do dự khi di chuyển. Bạn bè của tôi tụ tập ăn tối vào tối hôm đó: Matta đến từ Ý, Garcia Marquez từ Barcelona, Siqueiros từ Mexico City, Miguel Otero Silva từ Caracas, Arturo Camacho Ramirez từ chính Paris, Cortazar – từ nơi ẩn náu bí mật của anh ấy. Và một người Chilê khác – Carlos Vasallo, cùng anh ta, chúng tôi phải đến Stockholm.
Trên bàn của tôi có cả núi những bức điện mừng (tôi chưa đọc hết và trả lời tất cả được). Trong vô số các bức thư này có một bức thư rất tò mò và có tính chất đe dọa. Bức thư này do một quý ông gốc người da đen gửi từ Hà Lan. Bức thư đại loại như sau: “Tôi là đại diện của phong trào chống thực dân ở Georgetown. Tôi yêu cầu ông mời tôi đến buổi lễ được tổ chức tại Stockholm nhân dịp trao giải thưởng Nobel cho ông. Đại sứ quán Thụy Điển cảnh báo với tôi rằng muốn dự lễ phải có áo khoác đuôi tôm. Tôi không có tiền cho áo khoác đuôi tôm và tôi không bao giờ đi thuê nó vì thật nhục nhã cho người Mỹ tự do mặc quần áo đã qua sử dụng. Đó là lý do tôi muốn thông báo với ông rằng với số tiền khiêm tốn mà tôi đã tiết kiệm được, tôi sẽ đến Stockholm tổ chức một cuộc phỏng vấn báo chí và sẽ tố cáo, phơi bày bản chất của chủ nghĩa đế quốc trong buổi lễ sẽ được tổ chức để vinh danh nhà thơ nổi tiếng chống đế quốc và nổi tiếng nhất thế giới”.
Vào tháng 11 Matilde và tôi đã đến Stockholm. Chúng tôi đi cùng với một số người bạn cũ. Chúng tôi được ở trong khách sạn Grand sang trọng. Từ cửa sổ nhìn ra thành phố lạnh lẽo xinh đẹp, cung điện hoàng gia. Những người đoạt giải ở các lĩnh vực khác của năm nay, các nhà vật lý, hóa học, bác sĩ, v.v… cũng ở trong khách sạn Grand. Đây là những người rất khác nhau về tính cách. Một số thích trang trọng và nghi lễ, số khác lại thích đơn giản và khiêm tốn… Willy Brandt người Đức không có mặt ở khách sạn, ông sẽ nhận giải Nobel Hòa bình ở Na Uy. Tôi thấy tiếc vì đó là người mà tôi thực sự muốn gặp và nói chuyện. Sau đó tôi thấy ông ở các buổi tiếp tân, nhưng chúng tôi luôn bị một số người cản trở.
Buổi lễ sẽ được tổ chức sau buổi diễn tập, theo nghi thức của Thụy Điển, diễn ra tại hội trường nơi giải thưởng sẽ được trao. Thật buồn cười khi thấy chúng tôi, những người khá nghiêm túc, trước khi ra khỏi giường, vội vã rời khỏi khách sạn để đến cung điện đúng thời gian đã hẹn, leo lên cầu thang, không lẫn bất cứ thứ gì, rẽ phải hoặc trái, sau đó leo lên sân khấu và ngồi vào chiếc ghế mà bạn sẽ tham gia vào ngày trao giải. Và tất cả những điều này – trước máy quay truyền hình, trong một hội trường trống rỗng rộng lớn, nơi phô trương ngai vàng cũng u sầu và trống rỗng của nhà vua và nơi tôn vinh của hoàng gia. Tôi vẫn không hiểu tại sao truyền hình Thụy Điển quyết định quay một buổi diễn tập mà các diễn viên tệ hại như vậy tham gia.
Giải thưởng được trao vào ngày lễ Thánh Lucia. Những tiếng hát trong trẻo nhẹ nhàng từ hành lang đã đánh thức tôi dậy. Sau đó, các cô gái Scandinavia tóc vàng đội vương miện bằng vòng hoa và nến thắp sáng bước vào phòng tôi. Họ mang cho tôi bữa sáng và món quà – một bức tranh dài và đẹp mô tả cảnh biển.
Ít lâu sau đó, một sự cố đã xảy ra khiến lực lượng cảnh sát Stockholm lo lắng. Từ Phòng Lễ tân của khách sạn người ta đưa cho tôi một bức thư do một người chống thực dân quyết liệt từ Georgetown thuộc Hà Lan ký tên. “Tôi vừa mới đến Stockholm – bức thư viết – tôi không thể tổ chức cuộc họp báo, nhưng với tư cách là một nhà hành động cách mạng, tôi đã thực hiện các biện pháp khác. Chúng tôi không cho phép Pablo Neruda – nhà thơ của những người bị sỉ nhục và bị áp bức – mặc áo khoác đuôi tôm nhận giải thưởng Nobel”. “Đó là lý do tại vì sao anh ta mua chiếc kéo màu xanh lá cây để trước mặt toàn bộ công chúng đáng kính sẽ cắt phần đuôi và các phần khác từ áo khoác đuôi tôm. Tôi có nhiệm vụ cảnh báo cho ông về điều này. Khi ông thấy một người đàn ông da đen với chiếc kéo lớn màu xanh lá cây đứng lên từ chỗ ngồi cuối hội trường thì ông biết điều gì sẽ xảy ra với hắn”.
Tôi đưa bức thư kỳ lạ này cho nhà ngoại giao của Phòng Lễ tân đi cùng tôi và cười nói với anh ta rằng lá thư đầu tiên từ kẻ lập dị này tôi đã nhận ở Paris và theo tôi, điều này là vớ vẩn, không nên được coi trọng. Người Thụy Điển trẻ tuổi không chia sẻ ý kiến của tôi.
“Trong thời đại căng thẳng của chúng ta, những điều bất ngờ nhất có thể xảy ra. Nhiệm vụ của tôi là báo cho cảnh sát Stockholm” Anh ta nói, và sau đó đi làm những việc mà anh ta coi là nhiệm vụ của mình.
Cần phải nói một điều rằng, có nhà văn, nhà thơ Miguel Otero Silva người Venezuela đã đến Stockholm với tôi. Người đàn ông này đối với tôi không chỉ là lương tâm và trí tuệ của Mỹ Latinh mà anh ấy còn là người bạn thân và người bạn đồng hành trung thành của tôi. Một vài giờ trước khi buổi lễ diễn ra, trong bữa ăn trưa tôi nói rằng người Thụy Điển đã lo lắng trước bức thư mà một người dân ở Georgetown gửi cho tôi. Miguel Otero Silva – anh ấy ăn trưa với chúng tôi – đã tự tát vào trán và kêu lên:
- Đấy là bức thư tôi viết để trêu bạn đấy, Pablo ạ. Biết làm gì với cảnh sát bây giờ, họ đang tìm kiếm một người không có thật?
- Họ sẽ tống bạn vào tù. Chỉ những kẻ man rợ mới có khả năng đùa như vậy, và bạn sẽ phải chịu một hình phạt xứng đáng dành cho người đàn ông Georgetown – tôi đã nói với anh ta như vậy.
Lúc này nhà ngoại giao Thụy Điển trẻ tuổi của tôi đã quay trở lại. Anh ấy vừa đi báo cáo với chính quyền về bức thư kia. Không ngần ngại, chúng tôi thú nhận với anh ấy mọi thứ:
- Đây là một trò đùa không phù hợp, ngu ngốc. Tác giả của bức thư ngồi cùng bàn với chúng tôi đây này.
Thế là anh ấy lại vội vã đi đâu đó. Nhưng cảnh sát đã tìm kiếm người đàn ông da đen từ Georgetown trong tất cả các khách sạn ở Stockholm.
Tất cả các biện pháp phòng ngừa được tuân thủ nghiêm ngặt. Khi Matilde và tôi bước vào hội trường nơi diễn ra buổi lễ, và khi chúng tôi bước ra từ vũ hội chào mừng, thay vì một người thư ký như thông thường, chúng tôi được những người vệ sĩ trẻ tuổi cao lớn đứng gần – họ được lệnh không để một người đàn ông nào cầm chiếc kéo màu xanh đến gần tôi.
Tại lễ trao giải Nobel truyền thống có một lượng khán giả đông đảo và kỷ luật, chỉ vỗ tay một cách lịch sự ở nơi mà nó được cho là cần thiết. Vị Quốc vương già cả bắt tay từng người đoạt giải, trao bằng chứng nhận, huy chương vàng và tấm séc. Sau đó chúng tôi trở lại sân khấu trang trí đầy hoa, giờ đã bớt khó chịu hơn so với những ngày diễn tập. Tất cả những người đoạt giải Nobel ngồi trong ghế bành. Người ta nói (hoặc có lẽ chỉ muốn làm hài lòng Matilde) rằng nhà vua Thụy Điển đã dành cho tôi nhiều thời gian hơn những người khác, rằng Ngài đã bắt tay tôi lâu hơn những người khác, và nói chung là Ngài có cảm tình đặc biệt với tôi. Đây hẳn là truyền thống từ quá khứ xa xôi, khi các vị vua cho phép mình trở nên hòa nhã với những người hát rong. Không biết có phải như vậy không, nhưng không có vị vua nào khác bắt tay tôi, dù là vội vàng hoặc với sự tôn kính.
Nghi thức nghiêm ngặt này chắc chắn là rất long trọng. Dường như sự trang trọng đi kèm với nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc sống của chúng ta sẽ không bao giờ biến mất. Vì rằng con người ta cần đến nó. Tuy nhiên tôi cảm thấy rằng có một sự tương đồng rất buồn cười giữa cuộc diễu hành của những người đoạt giải Nobel và việc trao giải thưởng cho các em học sinh ở một thị trấn nhỏ.
==
Chú thích những tên riêng được nhắc đến trong bài viết:
*Georges Simenon (1903 – 1989) – Nhà văn Bỉ rất nổi tiếng với truyện trinh thám.
*Alonso de Ercilla (1533 – 1594) – Nhà thơ Tây Ban Nha, tác giả của bộ sử thi “La Araucana”.
*Giorgos Seferis (1900 – 1971) – Nhà ngoại giao, nhà thơ Hy Lạp đoạt giải Nobel năm 1963.
*Rómulo Gallegos (1884 – 1969) – Tổng thống Venezuela năm 1948, nhà văn Venezuela.
*Paul Valéry (1871 – 1945) – Nhà thơ Pháp
*Tomás Lago (1903 – 1975) – Nhà thơ Chilê, bạn thời trẻ của Pablo Neruda
*Gösta Berling – Nhân vật trong tác phẩm “Truyền thuyết về Gösta Berling” (Gösta Berlings saga) của nữ nhà văn Thụy Điển Selma Lagerlöf
*Jean Marsenac (1913 – 1984) – Nhà thơ Pháp
*Louis Aragon (1897 – 1982) – Nhà thơ Pháp
*Artur Lundqvist (1906 – 1991) – Nhà văn, nhà thơ Thụy Điển
*Salvador Allende (1908 – 1973) – Chính khách, Tổng thống Chilê từ 3 tháng 11 năm 1970 cho đến ngày đảo chính quân sự và bị giết chết
*Roberto Matta (1911 – 2002) – Họa sĩ người Chilê
*Miguel Otero Silva (1908 – 1985) – Nhà văn, nhà thơ Venezuela
*Arturo Camacho Ramirez (1910 – 1982) – Nhà thơ Columbia
Xem tiếp ở đây:
Tôi xin thú nhận rằng tôi đã sống (Confieso que he vivido)
Gabriela Mistral về Pablo Neruda
Pablo Neruda, người mà trong biên chế của lãnh sự Chile chúng tôi gọi là Ricardo Reyes, sinh ở Parral, trung tâm của thung lũng miền trung (Longitudinal) năm 1904 , và năm này đối với chúng tôi sẽ luôn luôn như là năm của Giáng sinh. Thành phố Temuco đã cho Neruda thời thơ ấu của mình, cái tuổi thơ đã hun đúc nên tính cách của nhà thơ nhỏ tuổi. Neruda học văn học tại Đại học Sư phạm Santiago, nhưng không làm nghề dạy học như những người Chile khác. Một trong những Bộ trưởng, lúc đó chắc gì đã nhận thức được việc làm tốt đẹp, đã phái chàng Neruda 23 tuổi đi làm lãnh sự ở các nước Phương Đông, hy vọng vào sự can đảm của tuổi trẻ. Ở đó, giữa Nam Dương và Tích Lan, ở vùng Ấn Độ Dương nhiệt đới Neruda đã sống 5 năm. 5 năm này đối với tài năng thơ nhạy cảm bằng cả 20 năm. Có lẽ vùng đại dương oi bức này và cả nền văn học Anh mà Neruda am hiểu đã ảnh hưởng lớn nhất đến nhiệt huyết thơ ca của anh ấy.
Trước khi rời Chile, tập thơ Crepusculario (Hoàng hôn) đã biến Neruda thành lãnh tụ của thế hệ mình. Đến thủ đô, Neruda đã gặp nhóm các nhà thơ trẻ, những người khát khao cái mới, mong muốn giải phóng thơ khỏi lớp gỉ cố hữu, họ đã tiếp nhận sự cải cách táo bạo của Vicente Huidobro, người khởi xướng phong trào “ creacionismo – creationism” (sáng tạo).
Những tác phẩm của Neruda thời gian sau đó được nhà xuất bản “Cruz y Raya” tập hợp lại trong hai tập dưới tiêu đề Residencia en la tierra (Trú ngụ trên trái đất). Cuốn sách này từ trang bìa đã nói lên tài năng xuất chúng từ việc đặt tên sách.
“Trú ngụ trên trái đất” đã mang lại niềm vui lớn cho các nhà nghiên cứu: ở đây họ tìm thấy sự giàu có vật chất mà theo đó có thể theo dõi sự phát triển của một nhà thơ lớn. Sự trung thực với chính mình và sự tự tin đầy đủ đối với con người, nhà thơ đã đem đến cho độc giả những bài thơ về những đề tài yêu thích: “ Gỗ”, “Rượu” và “Cần tây”. Những bài thơ này không chỉ là những bài thơ đầu tay mà còn sự đại diện xứng đáng cho cả nền thơ ca non trẻ.
Tinh thần sáng tạo độc đáo theo cách của mình để tìm kiếm những gì mà chúng tôi gọi là “tính biểu cảm” để tìm kiếm ngôn ngữ thơ của riêng mình. Neruda từ chối các công cụ quen thuộc cũ kỹ: những bài thơ trong cuốn này không đi theo truyền thống của thơ Chile. Anh ấy cũng bác bỏ tất cả những ảnh hưởng từ bên ngoài – một số điểm tiếp xúc với Blake, Whitman, Czeslaw Milosz chỉ là do sự gần gũi về khí chất thơ của họ.
Vốn từ vựng của Neruda rất mới lạ, khuynh hướng thô từ, sắc nét, phù hợp trước tiên với tư chất phong phú, do đó rất dồi dào và cởi mở, và thứ hai, ác cảm sâu sắc của anh với những lời sàng lọc. Neruda thường nói rằng thế hệ của anh ở Chile được giải phóng khỏi chủ nghĩa neogongorism rất thời thượng lúc đó. Tôi không biết tính chiến đấu, tính phản kháng mạnh mẽ là tốt hay xấu nhưng trong mọi trường hợp chúng ta chào đón nó, vì nó bảo vệ cho chúng ta sức mạnh của thi ca Neruda trong tất cả vẻ tuyệt vời của nó. Sẽ dễ dàng hình dung sự ngạc nhiên trước ngôn ngữ thơ Neruda của những người làm thơ và viết những bài phê bình theo tinh thần của “những tiệm hớt tóc”.
Kỹ năng biểu cảm cương quyết và không trau chuốt của Neruda là tính năng bản địa của nhân sinh quan Chilê. Nhân dân chúng ta còn xa xôi với nhà thơ lớn của mình, nhưng họ vốn có cùng một ác cảm với ngôn ngữ không màu sắc và bóng bẩy. Sẽ rất hữu ích khi nhớ lại những cụm từ: “họa mi”, “quạt”, “hoa hồng” mà chủ nghĩa hiện đại đưa ra – thì chúng ta sẽ hiểu rằng đó là cơn gió mà Neruda dùng để làm sạch bầu không khí xung quanh mình và muốn làm sạch nó ở bất cứ đâu.
Một khía cạnh đặc sắc khác của Neruda là sự lựa chọn đề tài. Anh đem vứt đi tất cả những môi trường nên thơ: hoàng hôn, hoa tình ca trên ban công hoặc trong vườn. Chúng cũng là thứ trở ngại, bắt nguồn từ thói quen, nghĩa là quán tính, và thiên chất sáng tạo của anh đốt cháy tất cả những gì cũ kỹ trên con đường của mình. Những câu chuyện của anh cũng chắc gì quen thuộc: đấy là những thành phố hiện đại với vẻ cau có, là cuộc sống thường nhật với vẻ thảm hại, là những sầu ca mà trong đó cái chết thật không bình thường, tựa hồ như ta chưa bao giờ nhìn thấy, là những câu chuyện cũ được kể theo cách hoàn toàn mới mẻ và đem lại hiệu quả nổi bật – và đó là sự kết thúc, sự sụp đổ của tất cả mọi sinh linh lẫn vật vô tri. Cái chết – hầu như là mô-típ thường xuyên và ám ảnh trong tác phẩm của Neruda và nó thể hiện những hình thức bất ngờ nhất của sự hấp hối, đớn đau và mục nát.
Trong thơ của Neruda có không nhiều tiếng vọng của Tây Ban Nha, nhưng trong đó có nỗi ám ảnh bệnh hoạn Castilian với cái chết. Một bạn đọc thiển cận, có lẽ, sẽ gọi Neruda là người thần bí Tây Ban Nha. Nhưng chúng ta hãy cẩn thận với từ “thần bí”, bởi nó thường dẫn đến sự xét đoán bề ngoài. Có thể coi Neruda là người thần bí vật chất. Những gì mà nhà thơ sáng tạo ra – quả là một sự kỳ diệu. Nhà sư Ấn Độ, cũng như Bergson cho rằng, nếu muốn nhận biết đối tượng, cần phải đặt mình vào bên trong nó. Neruda, một bậc thầy về kỹ thuật thi ca, trong bài thơ về “Gỗ” đã biết cách đi vào cốt lõi của vật chất bên ngoài con người.
Có thể gọi bầu không khí, nơi nhà thơ sống với những tưởng tượng của mình là mờ ảo và căng thẳng. Nhà thơ là thiên thần bị lật đổ mãi mãi khát khao sự xúc động để đắm chìm vào thơ ca. Có lẽ ở đó có linh hồn thiên thần của vực sâu, thiên thần của hang động hoặc vực sâu của biển, bởi vì không gian thơ Neruda – phần nhiều là ở dưới đất hơn là trong không khí, – mặc dù nhà thơ vốn nặng lòng với đại dương.
Nhưng hãy để cho nhà thơ ở đâu mình muốn và gửi cho chúng ta thông điệp thơ ca của mình – điều quan trọng cần nhìn thấy và đánh giá ở Pablo Neruda là chính con người anh ấy như là một nhân cách. Neruda là hiện thân của con người mới châu Mỹ, anh ấy biểu lộ cho chúng ta một thứ cảm xúc đặc biệt, mà thông qua đó mở ra một chương mới của cảm xúc con người. Bút pháp bậc thầy sản sinh ra một lực đẩy mạnh mẽ khỏi cái thông thường.
Thơ ca của Neruda gợi cho tôi nhiều hình tượng khác nhau. Khi tôi ngừng đọc để cho thơ ở lại trong tôi thì tôi nhìn thấy nó nằm yên như là một cái gì đó vốn có. Một trong những hình ảnh như vậy: một thân cây nhăn nheo và rêu phủ đầy, đứng yên trong khi đó thời gian gom lại bên trong những sức mạnh của cuộc sống. Một số bài thơ gợi cho tôi những tình cảm sôi nổi và thứ hạnh phúc ở chốn niết bàn mà thứ rạo rực này được hỗ trợ một cách rất lạ lùng.
Những khả năng mâu thuẫn và những mong muốn tương phản ở đứa trẻ châu Mỹ luôn luôn giải thích qua sự giao nhau của chủng tộc, trong trường hợp này, như thường lệ, là vấn đề huyết thống. Neruda coi mình là một người da trắng thuần chủng, giống như bất kỳ một người lai nào, tiếp nhận văn hóa châu Âu và quên nguồn gốc hai phía của mình. Những người bạn Tây Ban Nha của Neruda mỉm cười trìu mến trước câu trả lời với niềm tin ngây thơ của anh ấy. Mặc dù nhìn vẻ ngoài của anh ấy sự pha trộn huyết thống không thật rõ ràng – trong ánh nhìn, trong vẻ chậm rãi của cử chỉ, và đặc biệt ở lời nói – thơ ca của anh ấy có những tiếng vọng của phương Đông, có một sự đối kháng tích cực của những dòng máu khác nhau. Vì rằng sự pha trộn của các chủng tộc có những khía cạnh bi kịch khác nhau, và có lẽ chỉ trong nghệ thuật nó mang lại lợi thế và sự giàu có không thể tranh cãi. Sự giàu có này tạo nên cơn lũ cảm xúc và ngôn ngữ của Neruda, sự kết hợp vẻ chua cay với sự nghiêm túc của tôn giáo và nhiều thứ nữa, chúng ta xem như là một hệ quả hiển nhiên của pha trộn trong đó dòng máu Tây Ban Nha và dòng máu của người da đỏ bản xứ. Phương Đông đặt dấu ấn lên một nhà thơ bất kỳ, tuy nhiên với một người phương Tây thì phương Đông chỉ có ích một nửa và làm mất phương hướng hơn là củng cố. Nhưng cát bụi da đỏ của Neruda sôi lên ngay từ sự gặp gỡ đầu tiên với châu Á. “Trú ngụ trên trái đất”âm thầm kể về cuộc gặp gỡ xúc động sâu xa này. Nó cũng đưa ra một bí mật rằng, khi người lai mở ra những cửa cống của mình thì toàn bộ bản chất của mình sẽ tuôn thành một dòng chảy mạnh mẽ. Sự mô phỏng của chúng ta theo người Mỹ trông thật đáng thương, còn sự trở về với chính mình – luôn luôn có một sự thành công.
Và bây giờ chúng ta phát âm từ “thuộc Mỹ” rất hay. Neruda thường xuyên nhắc tới Whitman – không chỉ bằng những dòng thơ của mình với những đốt xương sống titanic, mà còn bằng hơi thở dài và sự thoải mái tự nhiên của người Mỹ không biết đến sự trói buộc hay trở ngại nào. Sự “thuộc Mỹ” trong tập thơ này được thể hiện trong sức mạnh tự do, trong sự can đảm hạnh phúc, trong khả năng sinh sản không ngừng.
Thơ đương đại của châu Mỹ (nó đã không còn gọi là modernismo (chủ nghĩa hiện đại) mà cũng không là ultraismo (chống lại modernismo) phần nhiều nhờ công lao của Neruda, người đã đứng lên bảo vệ nó bằng sự phản đối không khoan nhượng. Sau làn sóng thơ ca đầu tiên của Neruda có một cơn thủy triều mạnh mẽ đã đưa vào bờ tất cả những gì giấu trong lòng biển khơi, tất cả tài năng mà những ngọn sóng trước đó chỉ mang đến một phần rất ít ỏi.
Đất nước tôi phải bày tỏ lòng biết ơn đối với Neruda. Chile vẫn luôn là một đất nước sục sôi và mạnh mẽ. Tuy nhiên, văn học của chúng ta, nơi mà nhiều năm qua dưới sự lãnh đạo của một Thượng viện lười biếng thời Bello và giả cổ điển thời gian tiếp theo – chỉ thỉnh thoảng, trong một số văn bản cho phép vượt qua bức tường lửa chủng tộc, vì thế tinh thần Chile xuất hiện trong các hợp tuyển khô khan, chậm chạp và buồn tẻ. Neruda với “Trú ngụ trên trái đất” đã mang đến cho nấm men Chile một khả năng để thoát khỏi cảnh tù túng, đảm bảo cho chúng ta một tương lai thơ ca vinh quang và nở hoa kết trái.
Xem thêm
Pablo Neruda, người mà trong biên chế của lãnh sự Chile chúng tôi gọi là Ricardo Reyes, sinh ở Parral, trung tâm của thung lũng miền trung (Longitudinal) năm 1904 , và năm này đối với chúng tôi sẽ luôn luôn như là năm của Giáng sinh. Thành phố Temuco đã cho Neruda thời thơ ấu của mình, cái tuổi thơ đã hun đúc nên tính cách của nhà thơ nhỏ tuổi. Neruda học văn học tại Đại học Sư phạm Santiago, nhưng không làm nghề dạy học như những người Chile khác. Một trong những Bộ trưởng, lúc đó chắc gì đã nhận thức được việc làm tốt đẹp, đã phái chàng Neruda 23 tuổi đi làm lãnh sự ở các nước Phương Đông, hy vọng vào sự can đảm của tuổi trẻ. Ở đó, giữa Nam Dương và Tích Lan, ở vùng Ấn Độ Dương nhiệt đới Neruda đã sống 5 năm. 5 năm này đối với tài năng thơ nhạy cảm bằng cả 20 năm. Có lẽ vùng đại dương oi bức này và cả nền văn học Anh mà Neruda am hiểu đã ảnh hưởng lớn nhất đến nhiệt huyết thơ ca của anh ấy.
Trước khi rời Chile, tập thơ Crepusculario (Hoàng hôn) đã biến Neruda thành lãnh tụ của thế hệ mình. Đến thủ đô, Neruda đã gặp nhóm các nhà thơ trẻ, những người khát khao cái mới, mong muốn giải phóng thơ khỏi lớp gỉ cố hữu, họ đã tiếp nhận sự cải cách táo bạo của Vicente Huidobro, người khởi xướng phong trào “ creacionismo – creationism” (sáng tạo).
Những tác phẩm của Neruda thời gian sau đó được nhà xuất bản “Cruz y Raya” tập hợp lại trong hai tập dưới tiêu đề Residencia en la tierra (Trú ngụ trên trái đất). Cuốn sách này từ trang bìa đã nói lên tài năng xuất chúng từ việc đặt tên sách.
“Trú ngụ trên trái đất” đã mang lại niềm vui lớn cho các nhà nghiên cứu: ở đây họ tìm thấy sự giàu có vật chất mà theo đó có thể theo dõi sự phát triển của một nhà thơ lớn. Sự trung thực với chính mình và sự tự tin đầy đủ đối với con người, nhà thơ đã đem đến cho độc giả những bài thơ về những đề tài yêu thích: “ Gỗ”, “Rượu” và “Cần tây”. Những bài thơ này không chỉ là những bài thơ đầu tay mà còn sự đại diện xứng đáng cho cả nền thơ ca non trẻ.
Tinh thần sáng tạo độc đáo theo cách của mình để tìm kiếm những gì mà chúng tôi gọi là “tính biểu cảm” để tìm kiếm ngôn ngữ thơ của riêng mình. Neruda từ chối các công cụ quen thuộc cũ kỹ: những bài thơ trong cuốn này không đi theo truyền thống của thơ Chile. Anh ấy cũng bác bỏ tất cả những ảnh hưởng từ bên ngoài – một số điểm tiếp xúc với Blake, Whitman, Czeslaw Milosz chỉ là do sự gần gũi về khí chất thơ của họ.
Vốn từ vựng của Neruda rất mới lạ, khuynh hướng thô từ, sắc nét, phù hợp trước tiên với tư chất phong phú, do đó rất dồi dào và cởi mở, và thứ hai, ác cảm sâu sắc của anh với những lời sàng lọc. Neruda thường nói rằng thế hệ của anh ở Chile được giải phóng khỏi chủ nghĩa neogongorism rất thời thượng lúc đó. Tôi không biết tính chiến đấu, tính phản kháng mạnh mẽ là tốt hay xấu nhưng trong mọi trường hợp chúng ta chào đón nó, vì nó bảo vệ cho chúng ta sức mạnh của thi ca Neruda trong tất cả vẻ tuyệt vời của nó. Sẽ dễ dàng hình dung sự ngạc nhiên trước ngôn ngữ thơ Neruda của những người làm thơ và viết những bài phê bình theo tinh thần của “những tiệm hớt tóc”.
Kỹ năng biểu cảm cương quyết và không trau chuốt của Neruda là tính năng bản địa của nhân sinh quan Chilê. Nhân dân chúng ta còn xa xôi với nhà thơ lớn của mình, nhưng họ vốn có cùng một ác cảm với ngôn ngữ không màu sắc và bóng bẩy. Sẽ rất hữu ích khi nhớ lại những cụm từ: “họa mi”, “quạt”, “hoa hồng” mà chủ nghĩa hiện đại đưa ra – thì chúng ta sẽ hiểu rằng đó là cơn gió mà Neruda dùng để làm sạch bầu không khí xung quanh mình và muốn làm sạch nó ở bất cứ đâu.
Một khía cạnh đặc sắc khác của Neruda là sự lựa chọn đề tài. Anh đem vứt đi tất cả những môi trường nên thơ: hoàng hôn, hoa tình ca trên ban công hoặc trong vườn. Chúng cũng là thứ trở ngại, bắt nguồn từ thói quen, nghĩa là quán tính, và thiên chất sáng tạo của anh đốt cháy tất cả những gì cũ kỹ trên con đường của mình. Những câu chuyện của anh cũng chắc gì quen thuộc: đấy là những thành phố hiện đại với vẻ cau có, là cuộc sống thường nhật với vẻ thảm hại, là những sầu ca mà trong đó cái chết thật không bình thường, tựa hồ như ta chưa bao giờ nhìn thấy, là những câu chuyện cũ được kể theo cách hoàn toàn mới mẻ và đem lại hiệu quả nổi bật – và đó là sự kết thúc, sự sụp đổ của tất cả mọi sinh linh lẫn vật vô tri. Cái chết – hầu như là mô-típ thường xuyên và ám ảnh trong tác phẩm của Neruda và nó thể hiện những hình thức bất ngờ nhất của sự hấp hối, đớn đau và mục nát.
Trong thơ của Neruda có không nhiều tiếng vọng của Tây Ban Nha, nhưng trong đó có nỗi ám ảnh bệnh hoạn Castilian với cái chết. Một bạn đọc thiển cận, có lẽ, sẽ gọi Neruda là người thần bí Tây Ban Nha. Nhưng chúng ta hãy cẩn thận với từ “thần bí”, bởi nó thường dẫn đến sự xét đoán bề ngoài. Có thể coi Neruda là người thần bí vật chất. Những gì mà nhà thơ sáng tạo ra – quả là một sự kỳ diệu. Nhà sư Ấn Độ, cũng như Bergson cho rằng, nếu muốn nhận biết đối tượng, cần phải đặt mình vào bên trong nó. Neruda, một bậc thầy về kỹ thuật thi ca, trong bài thơ về “Gỗ” đã biết cách đi vào cốt lõi của vật chất bên ngoài con người.
Có thể gọi bầu không khí, nơi nhà thơ sống với những tưởng tượng của mình là mờ ảo và căng thẳng. Nhà thơ là thiên thần bị lật đổ mãi mãi khát khao sự xúc động để đắm chìm vào thơ ca. Có lẽ ở đó có linh hồn thiên thần của vực sâu, thiên thần của hang động hoặc vực sâu của biển, bởi vì không gian thơ Neruda – phần nhiều là ở dưới đất hơn là trong không khí, – mặc dù nhà thơ vốn nặng lòng với đại dương.
Nhưng hãy để cho nhà thơ ở đâu mình muốn và gửi cho chúng ta thông điệp thơ ca của mình – điều quan trọng cần nhìn thấy và đánh giá ở Pablo Neruda là chính con người anh ấy như là một nhân cách. Neruda là hiện thân của con người mới châu Mỹ, anh ấy biểu lộ cho chúng ta một thứ cảm xúc đặc biệt, mà thông qua đó mở ra một chương mới của cảm xúc con người. Bút pháp bậc thầy sản sinh ra một lực đẩy mạnh mẽ khỏi cái thông thường.
Thơ ca của Neruda gợi cho tôi nhiều hình tượng khác nhau. Khi tôi ngừng đọc để cho thơ ở lại trong tôi thì tôi nhìn thấy nó nằm yên như là một cái gì đó vốn có. Một trong những hình ảnh như vậy: một thân cây nhăn nheo và rêu phủ đầy, đứng yên trong khi đó thời gian gom lại bên trong những sức mạnh của cuộc sống. Một số bài thơ gợi cho tôi những tình cảm sôi nổi và thứ hạnh phúc ở chốn niết bàn mà thứ rạo rực này được hỗ trợ một cách rất lạ lùng.
Những khả năng mâu thuẫn và những mong muốn tương phản ở đứa trẻ châu Mỹ luôn luôn giải thích qua sự giao nhau của chủng tộc, trong trường hợp này, như thường lệ, là vấn đề huyết thống. Neruda coi mình là một người da trắng thuần chủng, giống như bất kỳ một người lai nào, tiếp nhận văn hóa châu Âu và quên nguồn gốc hai phía của mình. Những người bạn Tây Ban Nha của Neruda mỉm cười trìu mến trước câu trả lời với niềm tin ngây thơ của anh ấy. Mặc dù nhìn vẻ ngoài của anh ấy sự pha trộn huyết thống không thật rõ ràng – trong ánh nhìn, trong vẻ chậm rãi của cử chỉ, và đặc biệt ở lời nói – thơ ca của anh ấy có những tiếng vọng của phương Đông, có một sự đối kháng tích cực của những dòng máu khác nhau. Vì rằng sự pha trộn của các chủng tộc có những khía cạnh bi kịch khác nhau, và có lẽ chỉ trong nghệ thuật nó mang lại lợi thế và sự giàu có không thể tranh cãi. Sự giàu có này tạo nên cơn lũ cảm xúc và ngôn ngữ của Neruda, sự kết hợp vẻ chua cay với sự nghiêm túc của tôn giáo và nhiều thứ nữa, chúng ta xem như là một hệ quả hiển nhiên của pha trộn trong đó dòng máu Tây Ban Nha và dòng máu của người da đỏ bản xứ. Phương Đông đặt dấu ấn lên một nhà thơ bất kỳ, tuy nhiên với một người phương Tây thì phương Đông chỉ có ích một nửa và làm mất phương hướng hơn là củng cố. Nhưng cát bụi da đỏ của Neruda sôi lên ngay từ sự gặp gỡ đầu tiên với châu Á. “Trú ngụ trên trái đất”âm thầm kể về cuộc gặp gỡ xúc động sâu xa này. Nó cũng đưa ra một bí mật rằng, khi người lai mở ra những cửa cống của mình thì toàn bộ bản chất của mình sẽ tuôn thành một dòng chảy mạnh mẽ. Sự mô phỏng của chúng ta theo người Mỹ trông thật đáng thương, còn sự trở về với chính mình – luôn luôn có một sự thành công.
Và bây giờ chúng ta phát âm từ “thuộc Mỹ” rất hay. Neruda thường xuyên nhắc tới Whitman – không chỉ bằng những dòng thơ của mình với những đốt xương sống titanic, mà còn bằng hơi thở dài và sự thoải mái tự nhiên của người Mỹ không biết đến sự trói buộc hay trở ngại nào. Sự “thuộc Mỹ” trong tập thơ này được thể hiện trong sức mạnh tự do, trong sự can đảm hạnh phúc, trong khả năng sinh sản không ngừng.
Thơ đương đại của châu Mỹ (nó đã không còn gọi là modernismo (chủ nghĩa hiện đại) mà cũng không là ultraismo (chống lại modernismo) phần nhiều nhờ công lao của Neruda, người đã đứng lên bảo vệ nó bằng sự phản đối không khoan nhượng. Sau làn sóng thơ ca đầu tiên của Neruda có một cơn thủy triều mạnh mẽ đã đưa vào bờ tất cả những gì giấu trong lòng biển khơi, tất cả tài năng mà những ngọn sóng trước đó chỉ mang đến một phần rất ít ỏi.
Đất nước tôi phải bày tỏ lòng biết ơn đối với Neruda. Chile vẫn luôn là một đất nước sục sôi và mạnh mẽ. Tuy nhiên, văn học của chúng ta, nơi mà nhiều năm qua dưới sự lãnh đạo của một Thượng viện lười biếng thời Bello và giả cổ điển thời gian tiếp theo – chỉ thỉnh thoảng, trong một số văn bản cho phép vượt qua bức tường lửa chủng tộc, vì thế tinh thần Chile xuất hiện trong các hợp tuyển khô khan, chậm chạp và buồn tẻ. Neruda với “Trú ngụ trên trái đất” đã mang đến cho nấm men Chile một khả năng để thoát khỏi cảnh tù túng, đảm bảo cho chúng ta một tương lai thơ ca vinh quang và nở hoa kết trái.
Xem thêm





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét