Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Bjørnstjerne Bjørnson - 1903


Bjørnstjerne Martinus Bjørnson (8 tháng 12 năm 1832 – 26 tháng 4 năm 1910) là nhà văn, nhà viết kịch Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1903. Bjørnstjerne Bjørnson là một trong “Bộ tứ Vĩ đại” của Na Uy, cùng với Henrik Ibsen, Jonas Lie và Alexander Kielland. Bjørnson cũng là tác giả phần lời của Quốc ca Na Uy: Ja, vi elsker dette landet (Vâng, chúng ta yêu đất nước này).

Bjørnstjerne Bjørnson là con trai lớn của một mục sư người Na Uy. Năm Bjørnson 5 tuổi, gia đình rời Kvikne đến vùng Romsdal phong cảnh đẹp ở Tây Na Uy, nơi cậu bé vào học tại trường Modle. Bjørnson làm thơ, ra báo viết tay và quan tâm đến chính trị từ rất sớm. Năm 1849 ông đến Christiana (nay là Oslo). Tại đây ông đã gặp gỡ với nhà viết kịch vĩ đại Henrik Ibsen và các nhà văn tên tuổi khác của Na Uy. Năm 1852 vào trường Đại học Christiana, nhưng năm sau ông đã ngừng đến lớp mà dấn thân vào đời sống chính trị, sân khấu và văn học của thành phố, viết phê bình sân khấu, ra tạp chí Illustreret Folkebladet - trong đó các truyện cổ tích dân gian do ông ghi chép lại lần đầu tiên được đăng tải. Năm 1856 sang dự hội nghị sinh viên tại Thụy Điển, ông kinh ngạc trước những kỉ niệm về quá khứ, các trang phục dân tộc, vũ khí, bia mộ của các vị vua Thụy Điển và nảy ra ý tưởng trở về khôi phục lịch sử đất nước mình.
Tham gia vào chiến dịch vận động thành lập và trở thành giám đốc Nhà hát Quốc gia Na Uy ở Berrgen năm 1857, Bjørnstjerne Bjørnson giữ vai trò nhà hoạt động văn hóa hàng đầu của đất nước. Trở về Oslo năm 1859, ông ra tờ nhật báo buổi chiều Aftenbladet - cơ quan ngôn luận của Đảng Tân Tự do Na Uy. Từ năm 1865 đến năm 1867 ông làm giám đốc Nhà hát Christiana.
Trước năm 1873 ông chủ yếu làm thơ, viết kịch, bài hát, truyện vừa, truyện cổ tích về đề tài lịch sử. Cuối những năm 1860 sáng tác thơ của ông đạt đến thời kì rực rỡ nhất với các tập tiêu biểu Digte og Sange (Thơ và những khúc ca, 1870), Arnljot Gelline (1870). Thơ của ông được phổ nhạc nhiều, trong đó có bài Vâng, chúng ta yêu mảnh đất này (1859) về sau trở thành Quốc ca Na Uy. Kịch của ông đề cập đến những vấn đề thời sự xã hội, dàn dựng ở nhiều nước châu Âu và Mỹ. Tác phẩm bộ ba Sigurd hung bạo (1863) kể về kẻ tiếm ngôi bí mật thời Trung Cổ, được đánh giá là vở kịch xuất sắc nhất của ông. Ngoài ra ông còn viết một số tiểu thuyết theo phong cách hiện thực chủ nghĩa (Những lá cờ bay trên thành phố và bến cảng (1884), Trên con đường của Chúa (1889). Những năm 1873-1876 nhà văn sống tại Roma. Thời gian này ông chuyên viết phê bình xã hội, tích cực bảo vệ tính độc lập chính trị và văn hóa của Na Uy. Năm 1881 ông qua Mỹ, từ năm 1893 về sống tại một trang trại ở Na Uy và thường xuyên ra nước ngoài.
Năm 1903 Bjørnstjerne Bjørnson là nhà văn đầu tiên trong khối Bắc Âu được nhận giải Nobel Văn học vì những đóng góp trong các lĩnh vực thơ, văn xuôi và kịch. Năm 1910, sau khi vở kịch cuối cùng Bao giờ nho mới trổ hoa được ấn hành, Bjørnstjerne Bjørnson qua đời ở tuổi 77.



Tác phẩm:
-Mellem slagene (Giữa các trận chiến, 1858), kịch
-Synnøve Solbakken (1857), truyện vừa
-Halte-Hulda (Hulda Thọt, 1858), kịch
-Arne (1858), kịch
-En glad gut (Anh chàng vui tính, 1860), kịch
-Kong Sverre (Vua Sverre, 1861), kịch
-Sigurd Slembe (Sigurd hung bạo, 1863), kịch
-Maria Stuart i Skotland (Maria Stuart của Scotland, 1864), kịch
-Arnljot Gelline (1870), trường ca sử thi
-En Fallit (Phá sản, 1875), kịch
-Redakteren (Người biên tập, 1875), kịch
-Kongen (Hoàng đế, 1877), kịch
-Digte og Sange (Thơ và những khúc ca, 1870), thơ
-En Hanske (Chiếc ống tay áo, 1883), kịch
-Det flager i Byen og paa Havnen (Những lá cờ bay trên thành phố và bến cảng, 1884), tiểu thuyết
-Geografi og Kjaerlighed (Tình yêu và môn địa lí, 1885), kịch
-Pa Guds Veje (Trên con đường của Chúa, 1889), tiểu thuyết
-Over Ævne. Andre Stykke (Quá sức ta, 1893-1895), kịch
-Paul Lange og Tora Parsberg (Paul Lange và Tora Parsberg, 1899), kịch
-Når den ny vin blomstrer (Rượu mới dậy hương, 1909), kịch
-Norges Vel (Quốc ca Na Uy, 1909), thơ


Một số bài thơ



QUỐC CA NA UY
(Ja, vi elsker dette landet)

1
Vâng, chúng ta yêu đất nước này
Yêu xứ sở mà từ đây
Có dải đất gồ ghề trên mặt nước
Với ngàn vạn ngôi nhà
Với tình yêu mà ta có được
Từ những người cha người mẹ của ta
Và từ những câu chuyện đêm xuất phát
Những ước mơ trên mặt đất của ta.

2
Đất nước này do vua Harald thống nhất
Bằng đội quân của những anh hùng
Và nơi này vua Hakon đã hát
Những câu hát của Eyvind.
Và vua Olav đã dùng máu của mình
Vẽ hình núi non lên cây thập ác
Để rồi vua Sverre tiếp bước
Chống lại đội quân của thành Rôm*.

3
Những nông dân mài dao kiếm của mình
Cho thật sắc để đi vào trận đánh
Khi Tordenskiold tiến vào bờ biển
Đội quân với khí thế ầm ầm
Thì những người phụ nữ cũng đứng lên
Cùng với đàn ông sát cánh
Họ không khóc mà dũng cảm
Chiến đấu với giặc đến cùng!

4
Quả thật chúng ta có ít quân
Nhưng dù sao vẫn đủ
Để làm cho quân thù khiếp sợ
Bằng khí thế oai hùng
Chúng ta thà đốt cháy quê hương
Cũng còn hơn thất bại
Và lòng tôi bồi hồi nhớ lại
Những chiến công ở Fredrikshald!

5
Nhưng đến một thời nhiễu nhương
Với những điều tai họa
Và Tự do với đôi mắt xanh
Đã sinh ra khi đó.
Với Tự do thì chuyện gì cũng dễ
Dù đói khát, chiến tranh
Dù cái chết – với danh dự của mình
Tự do đã làm tất cả.

6
Rồi kẻ thù đã vứt vũ khí của mình
Và tấm khiên che mặt
Anh ta vội vàng ra gặp
Và chào đón người anh em
Không xấu hổ, chẳng ngượng ngùng
Cùng nhau đi về phương nam
Bây giờ ba anh em thống nhất
Bền vững đến muôn năm!

7
Đất nước Na Uy vinh quang
Xin cám ơn Người, Thiên Chúa!
Trong những tháng ngày gian khổ
Người đã rủ lòng thương.
Những người cha đã đấu tranh
Và những người mẹ hiền đã khổ
Nhưng nhờ ơn Thiên Chúa
Xứ sở này giờ đã bình yên.

8
Vâng, chúng ta yêu đất nước này
Yêu xứ sở mà từ đây
Có dải đất gồ ghề trên mặt nước
Với ngàn vạn ngôi nhà.
Và sẽ mãi còn như thuở ông cha
Chúng ta luôn cần chiến thắng
Và chúng ta sẽ bước vào trận đánh
Cho hòa bình trên xứ sở của ta!
 ______________________ 
*Đội quân của thành Rôm – đội quân của Nhà thờ Na Uy.



Ja, vi elsker dette landet - tekst


1

Ja, vi elsker dette landet
som det stiger frem
furet, værbitt over vannet, 
med de tusen hjem. 
Elsker, elsker det og tenker 
på vår far og mor,
og den saganatt som senker 
drømmer på vår jord. 

2

Dette landet Harald berget 
med sin kjemperad, 
dette landet Håkon verget 
medens Øyvind kvad; 
Olav på det land har malet 
korset med sitt blod, 
fra dets høye Sverre talte 
Roma midt imot. 

3

Bønder sine økser brynte 
hvor en hær drog frem; 
Tordenskjold langs kysten lynte, 
så den lystes hjem. 
Kvinner selv stod opp og strede 
som de vare menn; 
andre kunne bare grede, 
men det kom igjen! 

4

Visstnok var vi ikke mange, 
men vi strakk dog til, 
da vi prøvdes noen gange, 
og det stod på spill; 
ti vi heller landet brente 
enn det kom til fall; 
husker bare hva som hendte 
ned på Fredrikshald! 

5

Hårde tider har vi døyet, 
ble til sist forstøtt; 
men i verste nød blåøyet 
frihet ble oss født. 
Det gav faderkraft å bære 
hungersnød og krig, 
det gav døden selv sin ære – 
og det gav forlik. 

6

Fienden sitt våpen kastet, 
opp visiret for, 
vi med undren mot ham hastet; 
ti han var vår bror. 
Drevne frem på stand av skammen 
gikk vi søderpå; 
nu vi står tre brødresammen, 
og skal sådan stå! 

7

Norske mann i hus og hytte, 
takk din store Gud! 
Landet ville han beskytte, 
skjønt det mørkt så ut. 
Alt hva fedrene har kjempet, 
mødrene har grett, 
har den Herre stille lempet, 
så vi vant vår rett. 

8

Ja, vi elsker dette landet, 
som det stiger frem, 
furet, værbitt over vannet, 
med de tusen hjem. 
Og som fedres kamp har hevet 
det av nød til seir, 
også vi, når det blir krevet, 
for dets fred slår leir.




THIẾU NỮ TÓC VÀNG

Lời của tôi có làm em luống cuống
Cất bước chân đi về chốn xa xăm
Nhưng tôi yêu em, thiếu nữ tóc vàng
Vẻ đẹp ngời sau tấm khăn màu trắng.

Tôi yêu đôi mắt của em mơ mộng
Như trời đêm giữa đồng tuyết ánh trăng
Như giữa rừng xa lấp lánh giọt sương
Còn ẩn giấu điều gì rất thầm kín.

Tôi yêu vầng trán của em kiêu hãnh
Và rõ ràng như sao sáng trong đêm
Nhưng bên trong những ý nghĩ tâm tình
Lại kỳ diệu với bao điều bí ẩn.

Yêu mái tóc xoăn của em rất đẹp
Được dải băng buộc lại ở phía sau
Như Cupid trong câu chuyện thuở nào
Vẫn mời gọi bàn tay và ánh mắt.

Tôi yêu dáng vẻ của em quyền quí
Trong nhịp vui của bài hát cô dâu
Có ước mong của cuộc sống dài lâu
Và khao khát thẳm sâu thời tuổi trẻ.

Tôi yêu bước đi của em nhè nhẹ
Sẽ mang theo chiến thắng với vinh quang
Từ miền tự do của tuổi thanh xuân
Về xứ sở tình yêu và nghĩa vụ.

Tôi yêu bàn tay, đôi môi mời gọi
Thần tình yêu sẽ bảo vệ người yêu
Và giải thưởng quả táo sẽ được trao
Và cảnh giác với những gì xảy tới.

Tôi yêu em và thấy cần phải nói
Rằng lời tôi em đã chẳng hề nghe
Vì thiếu nữ là thế: không bao giờ
Chịu lắng nghe những gì thi sĩ nói.

Den blonde pike


Skjønt hun vil som et luftsyn vike,

dersom jeg sådan tale tør-!
Jeg elsker deg, du blonde pike,
gjemt i ditt yndes hvite slør.

Jeg elsker dine drømmeøyne,

der går som en måneskinn på sne
og senker seg, hvor skoger høyne,
i noe gjemt, jeg ei får se.

Jeg elsker denne edle panne,

fordi den står så stjerneklar
og speiler seg i tankens vanne
og vet dog ikke hva den har.

Jeg elsker dette hår som flokker

seg bakom nettets travle bånd!
Lik mytens amoriner lokker
det på mitt øye og min hånd.

Jeg elsker denne form der gynger

i takten av sin brudesang,
som kraft og livslyst daglig synger
ut av sin unge, dunkle trang.

Jeg elsker denne fot som bærer

en sådan seirens herlighet,
igjennom ungomsmotets sfærer
imot den første kjærlighet.

Jeg elsker denne hånd og lebe,

de to i elskovsgudens pakt,
ved hvem han rekke prisens eble,
men hvem han også har på vakt.

Jeg elsker deg, jeg må det sige,-

ennskjønt du ei et bokstav tror,
men flykter, svaret, ingen pige
tør dvele ved en dikters ord!




CÔNG CHÚA


Công chúa ngồi trên chòi cao tơ tưởng

Một chàng trai đưa cây sáo thổi chơi.
“Này chàng trai, đừng thổi, hãy biến ngay!
Chàng làm cản ý nghĩ ta bay bổng
Giờ là lúc sẽ tan ánh mặt trời”. 

Công chúa ngồi trên chòi cao tơ tưởng

Chàng đi ngang không thổi sáo nữa rồi.
“Này chàng trai, sao không thổi sáo chơi
Để cho ý nghĩ của ta bay bổng
Giờ là lúc sẽ tan ánh mặt trời”. 

Công chúa ngồi trên chòi cao tơ tưởng

Và chàng trai lại đem sáo thổi chơi.
Công chúa khóc, thì thầm: “Ôi Chúa Trời
Sao nỗi buồn trong lòng con đè nặng
Giờ là lúc đã tan ánh mặt trời”. 

Prinsessen


Prinsessen sat højt i sit jomfrubur,

smågutten gik nede og blåste på lur.
„Hvi blåser du altid? Ti stille, du små!
Det hæfter min tanke, som vide vil gå,
nu når sol går ned.“

Prinsessen sat højt i sit jomfrubur,

smågutten lot være at blåse på lur.
„Hvi tier du stille? Blås mere, du små!
Det løfter min tanke, som vide vil gå,
nu når sol går ned.“

Prinsessen sat højt i sit jomfrubur,

smågutten tok atter og blåste på lur.
Da gråt hun i aftnen og sukkede ud:
„O sig mig, hvad er det mig fejler, min Gud! —
Nu gik solen ned.“



GIÁ MÀ EM BIẾT ĐƯỢC ĐIỀU NÀY 


Tôi không dám cùng với em trò chuyện

Em cũng không dám đưa mắt nhìn tôi
Tôi thơ thẩn chỉ nghĩ về một chuyện
Và nhìn thấy em nơi đó vẫn ngồi
Còn ý nghĩ như con thuyền không bến
Ta không dám hỏi, không dám trả lời
Ôi, giá mà em biết được điều này!

Khi tôi thường xuyên có mặt ở đây

Em lạnh lùng với tôi và kiêu hãnh
Nhưng bây giờ tôi hiếm khi xuất hiện
Tôi thấy em vẫn đứng đấy đợi tôi
Đôi con mắt có thể giết chết người
Chỉ thoát khỏi những ai người biết tránh.
Ôi, giá mà em biết được điều này!

Nhưng em biết không, số phận đắng cay

Một bài thơ cho em tôi viết đó
Mang theo niềm vui và bay về nơi
Có em dịu dàng đứng bên cửa sổ
Tôi ra đi, để em không thấy không nghe
Trời bảo vệ em khỏi điều nghiệt ngã
Ôi, giá mà em biết được điều này!

Å visste du bare


Jeg tør ikke tale til dig,

  du tør ikke se ned på mig,
  men altid så sitter du der,
  og altid spaserer jeg her.
Imellem kan tankerne listende fare,
men ingen tør spørge, og ingen tør svare!
  Å visste du bare!

  Dengang du bestandig mig fant,

  da var du litt kostbar iblant;
  men nu, når jeg sjældnere går,
  nu ser jeg, du væntende står!
To øjne, to øjne kan flætte en snare,
men deon som vil vid're, får ta sig i vare!
  Å visste du bare!

  Ja, dersom du anede slikt,

  jeg gik her og skrev dig et digt, —
  at nætop det bølgende fløj,
  ditop du står yndig og høj!
Men ser du, den kunskap, den bør vi nok spare —
jeg længer vil fare, dig himlen bevare, —
  å visste du bare!




TÔI LỰA CHỌN THÁNG TƯ


Tôi lựa chọn tháng tư

Xua những gì xưa cũ
Cho cái mới sẽ về.
Dù ai đó không ưa
Khi thanh bình yên ả
Còn đi muốn điều chi.

Tôi lựa chọn tháng tư

Dưới mặt trời băng giá
Những cơn mưa và gió
Nụ cười và ước mơ
Ai cũng đều nói cả:
Mùa hè đã sắp về. 

Jeg velger meg april

Jeg velger meg april
I den det gamle faller,
i den det ny får feste;
det volder litt rabalder,-
dog fred er ei det beste,
men at man noe vil.

Jeg velger meg april,
fordi den stormer, feier,
fordi den smiler, smelter,
fordi den evner eier,
fordi den krefter velter,-
i den blir somren til!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét