Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Sully Prudhomme - 1901


36 Nhà thơ
đoạt giải Nobel Văn học

01- Sully Prudhomme - Giải Nobel Văn học năm 1901




































HUY CHƯƠNG NOBEL

Giải thưởng Nobel là một trong những giải thưởng Quốc tế uy tín nhất. Những người đoạt giải được công bố vào tuần thứ hai của tháng mười hàng năm. 

Alfred Nobel là nhà hóa học, kỹ sư và nhà phát minh. Phát minh nổi tiếng nhất của ông là thuốc nổ. Năm 1888, thay vì cáo phó về người anh là Ludvig Emmanuel Nobel qua đời, một tờ báo Pháp đã đăng bức ảnh của Alfred Bernhard Nobel với cáo phó tên là: “Người buôn bán tử thần đã qua đời”. Alfred Nobel tự hỏi mình sẽ giữ lại kỷ niệm nào cho đời. Sau đó, ông quyết định thay đổi di chúc đã viết trước đây. Gần một năm trước khi qua đời vào ngày 27 tháng 11 năm 1895, Alfred Nobel đã quyết định bán tất cả tài sản của mình và gửi vào một ngân hàng. Thu nhập từ vốn lẫn lãi của số tiền này phải thuộc về một Quỹ và sẽ phân phối chúng hàng năm dưới dạng tiền thưởng cho những người trong năm trước đã mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.

Theo Điều lệ của Quỹ Nobel ngày 29 tháng 6 năm 1900: “Các tổ chức trao giải thưởng Nobel phải cung cấp cho mỗi người đoạt giải thưởng tiền mặt, bằng chứng nhận và huy chương vàng có hình Alfred Nobel với dòng chữ tương ứng”.

Huy chương các giải thưởng về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa do nhà điêu khắc, thợ khắc người Thụy Điển Erik Lindberg thiết kế. Huy chương của giải thưởng hòa bình - do nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland thiết kế. Huy chương của giải Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.

Ở mặt trước của các huy chương về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là chân dung của Alfred Nobel và năm sinh, năm mất của ông bằng chữ số La Mã - MDCCCXXXIII - MDCCCXCVI. Chân dung của Alfred Nobel ở các huy chương của giải Hòa bình và giải Kinh tế có chút khác biệt với nhau. Dòng chữ chính ở mặt sau của các huy chương giải Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” (Phát minh làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá), và hình ảnh thay đổi theo các biểu tượng của các tổ chức tương ứng trao giải thưởng Nobel. Ở mặt sau của huy chương giải Hòa bình có dòng chữ: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Ở mặt sau của huy chương giải Kinh tế không có trích dẫn nào cả. 


Các huy chương Nobel có thiết kế giống nhau kể từ năm 1902. Vậy thì tại sao không từ năm 1901, khi các giải thưởng đầu tiên được trao? Vào đầu năm 1901, nhà điêu khắc, thợ khắc tài năng người Thụy Điển Erik Lindberg được giao nhiệm vụ thiết kế các huy chương Nobel của Thụy Điển. Việc thiết kế huy chương của người Na Uy cho giải thưởng Hòa bình được giao cho nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland. Nhưng thiết kế mặt trái của huy chương Nobel Thụy Điển đã không được hoàn thành trước lễ trao giải đầu tiên vào năm 1901. Những người đoạt các giải Nobel năm 1901 đều nhận được một huy chương tạm thời - trên đó có khắc chân dung của Alfred Nobel - như một món quà lưu niệm cho đến khi huy chương thật hoàn thành. Huy chương thật đầu tiên được hoàn thành vào tháng 9 năm 1902. 

Trong những năm 1901-1902, Erik Lindbergh sống ở Paris. Ông chịu sự ảnh hưởng của các họa sĩ khắc Pháp thời kỳ đó. Bức chân dung của Nobel trên mặt trái của các huy chương Thụy Điển đã được hoàn thành đúng hạn vào tháng 10 năm 1901. Lý do của sự chậm trễ là các biểu tượng ở mặt sau của các huy chương cần được tất cả các tổ chức trao giải thưởng Nobel chấp thuận, nhưng một số mâu thuẫn nảy sinh ở đây. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, Erik Lindbergh quyết định quay trở lại Stockholm vào tháng 11 năm 1901 để trình bày ý tưởng của mình. Các đề xuất của ông sau đó đã được chấp nhận và cuối cùng ông đã làm khuôn thạch cao để đúc các huy chương nhưng đã không thể hoàn thành đúng thời hạn. 

Trên tất cả các huy chương Nobel Thụy Điển, tên của những người đoạt giải được khắc rõ ràng ở mặt sau, còn tên của những người đoạt giải giải Hòa bình và Kinh tế được khắc trên cạnh của huy chương và không mấy rõ ràng. Điều này tạo ra một số vấn đề nhất định cho những người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1975 – đó là nhà kinh tế người Liên Xô Leonid Kantorovich và nhà kinh tế người Mỹ Tjalling Koopmans. Huy chương của họ bị trao nhầm ở Stockholm, sau lễ trao giải Nobel, những người đoạt giải trở về quê hương của họ với những huy chương sai tên. Vì điều này xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phải mất bốn năm nỗ lực ngoại giao để trao đổi huy chương giữa các chủ sở hữu.

Một câu chuyện thú vị khác đã xảy ra với các huy chương Nobel của ba người đoạt giải vật lý trong Thế chiến II: người Đức Max von Laue (1914), người Đức Do Thái James Franck (1925), và người Đan Mạch Niels Bohr (1922). Từ năm 1933, Viện Vật lý Lý thuyết của Giáo sư Bohr tại Copenhagen đã trở thành nơi ẩn náu cho các nhà vật lý người Đức gốc Do Thái. Max von Laue và James Frank đã để lại huy chương Nobel của họ ở đó để tránh bị chính quyền Đức tịch thu. Sau khi Đan Mạch bị chiếm đóng vào tháng 4 năm 1940, Bohr bắt đầu lo lắng về sự an toàn của các huy chương, theo hồi ký của nhà hóa học người Hungary gốc Do Thái George de Hevesy (giải Nobel hóa học năm 1943), người làm việc tại cùng viện. Ở Đức Quốc xã, việc chuyển vàng ra nước ngoài được coi là một hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Vì tên của những người đoạt giải đã được khắc trên các huy chương nên việc nhận ra chúng là không hề khó khăn và hậu quả của việc này là rất nghiêm trọng. Một trích dẫn từ hồi ký của George de Hevesy: “Tôi đã đề nghị giấu huy chương, nhưng Bohr không thích ý tưởng đó vì cho rằng người ta có thể tìm thấy chúng. Tôi quyết định đem làm hòa tan chúng. Trong khi lính Đức đang tuần tra dọc theo các đường phố Copenhagen, tôi đã kịp làm hòa tan các huy chương của James Frank và Max von Laue. Sau chiến tranh, Quỹ Nobel đã hào phóng trao tặng huy chương Nobel mới cho Laue và Frank”. Hevesy đã viết cho Laue sau chiến tranh rằng việc làm hòa tan các huy chương là khó khăn vì vàng là một kim loại cực kỳ không phản ứng. Lính Đức quốc xã đã chiếm viện Bohr và lục soát rất kỹ càng nhưng không tìm thấy gì. Các huy chương được làm tan chảy trong dung dịch vodka hoàng gia. Hevesy không đề cập đến huy chương Nobel của Niels Bohr. Nhưng các tài liệu Lưu trữ về Niels Bohr ở Copenhagen cho thấy huy chương của ông cũng như huy chương Nobel về Sinh lý học và Y khoa năm 1920 của August Krogh đã được tặng cho cuộc đấu giá tổ chức ngày 12 tháng 3 năm 1940 để ủng hộ Quỹ Cứu trợ Phần Lan. Các huy chương này được một người giấu tên mua lại và tặng cho Bảo tàng Lịch sử Đan Mạch, nơi chúng vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay. 

Mặt trước của các huy chương Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là giống nhau như đã nói ở trên. Mặt sau của huy chương Nobel Văn học mô tả một chàng trai trẻ ngồi dưới cây nguyệt quế, đang say mê lắng nghe và ghi lại bài hát của Nàng thơ. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes”. (Sáng tạo làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá). Nội dung này lấy ý tưởng từ hai câu thơ trong thiên sử thi Aeneid của Virgil (Khúc ca VI, dòng 662-663):

Quique pii vates et Phoebo digna locuti,
Inventas aut qui vitam excoluere per artis,
(Cho những ai trong số các nhà tiên tri nói rằng chỉ Phoebus là xứng đáng
Cho những ai tô điểm cho đời bằng cách tạo ra nghệ thuật cho người phàm).

Cũng cần nói rằng câu “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” dịch ra tiếng Việt có thể dịch theo nghĩa đen hoặc bóng và cho từng lĩnh vực cũng cần phải dịch tương thích. Thí dụ từ “phát minh” dùng trong các lĩnh vực Vật lý, Hóa học hay Sinh lý học và Y khoa thì trong Văn học phải là “sáng tạo”… 
Phía dưới hình của Nàng thơ và chàng trai trẻ khắc tên người được trao giải và dòng chữ “ACAD. SUEC” (viết tắt của Viện Hàn lâm Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Văn học do Eric Lindbergh thiết kế. 


Mặt sau huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa mô tả Thiên tài Y học giữ cuốn sách mở trên đùi và hứng dòng nước chảy từ vách đá để làm dịu cơn khát của một cô gái bị bệnh. Dòng chữ trên huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Y học và cô gái khắc tên người được giải và dòng chữ: “REG. UNIVERSITAS MED. CHIR. CAROL” (viết tắt của từ Hội đồng Nobel của Viện Karonlinska). Huy chương giải Nobel Sinh lý học và Y khoa do Eric Lindbergh thiết kế. 

Hình nghiêng của Alfred Nobel ở mặt trước của huy chương Nobel Hòa bình hơi khác so với chân dung của ông trên các huy chương khác. Trên mặt sau của huy chương này là ba người đàn ông đứng thành vòng tròn trong vòng tay anh em bè bạn. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Dòng chữ “Prix Nobel de la Paix” (Giải Nobel Hòa bình), năm trao giải và tên của người đoạt giải được khắc trên cạnh của huy chương. Huy chương giải Nobel Hòa bình do Gustav Vigeland thiết kế.

Mặt sau huy chương Nobel Vật lý và Hóa học (giống hệt nhau) mô tả nữ thần Tự nhiên nổi lên từ đám mây cầm trên tay sừng dê hoa quả (Cornucopia) tượng trưng cho sự phong phú và giàu có. Đứng bên cạnh là Thiên tài Khoa học đang hé mở chiếc khăn choàng che đầu Nữ thần Tự nhiên. Dòng chữ trên Huy chương Nobel Vật lý và Hóa học có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Khoa học và Nữ thần Tự nhiên là tên của người đoạt giải và dòng chữ: “REG. ACAD. SCIENT. SUEC” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Vật lý và Nobel Hóa học do Eric Lindbergh thiết kế. 

Mặt trước của Huy chương Nobel Kinh tế khắc hình nghiêng của Alfred Nobel và hai chiếc sừng dê hoa quả (Cornucopia) chéo nhau ở phía bên dưới. Dòng chữ vòng quanh ghi: “Sveriges Riksbank till Alfred Nobels Minne 1968” (Ngân hàng Trung ương Thụy Điển tưởng nhớ Alfred Nobel). Trên mặt sau của Huy chương là biểu tượng của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển dưới dạng ngôi sao Bắc Đẩu, ba vương miện nhỏ và một lớn ở trên cùng. Dòng chữ trên mặt sau của huy chương có nội dung: “Kungliga Vetenskaps Akademien” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương Nobel Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.



Sully Prudhomme (tên thật là René Francois Armand Prudhomme, 16/3/1839 – 6/9/1907) – nhà thơ Pháp, thành viên của nhóm Parnasse, người đầu tiên trên thế giới đoạt giải Nobel Văn học “vì những giá trị văn chương xuất sắc, lý tưởng cao cả, nghệ thuật hoàn thiện và sự kết hợp tuyệt vời giữa tình cảm và trí tuệ”. Sully Prudhomme đã dùng tiền của giải Nobel lập ra một giải thưởng dành cho các nhà thơ trẻ nước Pháp. Ông cũng là người thành lập Hội các nhà thơ Pháp (Société des poètes français) năm 1902 cùng với Jose-Maria de Heredia và Leon Dierx.

Tiểu sử:
Sully Prudhomme sinh tại Paris năm 1839 trong gia đình René Armand Prudhomme. Bố mất lúc Prudhomme lên hai tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông cùng mẹ và chị gái chuyển đến sống với một người chú. Năm lên 8 tuổi vào học trường Lycee Bonapart. Cậu bé học giỏi toán, say mê ngôn ngữ và thơ Pháp.  
Từ năm 1860, đã phải tự đi làm nhiều nghề kiếm sống, buổi tối về nghiên cứu triết học và làm thơ. Năm 1865 in tập thơ đầu tay ký bút danh Sully Prudhomme được đánh giá cao. Năm sau, một nhà xuất bản in thơ của ông vào tập Parnasse ngày nay (Le Parnasse contemporain) - một thứ tuyên ngôn của các nhà thơ nhóm Parnasse phản đối lại trường phái lãng mạn. Năm 1870, nổ ra chiến tranh Pháp - Phổ, ông tự nguyện gia nhập dân quân. 
Những túng thiếu, vất vả trong thời kỳ quân Phổ phong tỏa Paris khiến sức khỏe đã yếu của ông càng thêm trầm trọng, ông bị liệt và phải cắt hai chân sau khi cuộc phong tỏa chấm dứt. Trong thời kỳ chữa bệnh, ông vẫn viết thơ ái quốc (Ấn tượng chiến tranh, 1870), cổ vũ thơ truyền thống, phản đối thơ tự do, chủ nghĩa tượng trưng, suy đồi (Di chúc thơ, 1900). Năm 1888 ông xuất bản trường ca Hạnh phúc, gồm 4000 câu thơ, khẳng định hạnh phúc có thể đạt được nhờ sự ham học hỏi, nhờ khoa học, nhờ lòng thiện và sự hy sinh. Những năm cuối đời ông tiếp tục sáng tác, viết khảo luận về tôn giáo, tâm lý. 

Sully Prudhomme mất tại nhà riêng ở ngoại ô Paris ngày 6 tháng 9 năm 1907. 


Tác phẩm:
- Tứ tuyệt và các bài thơ (Stances et poèmes, 1865), thơ.
- Thử thách
(Les épreuves, 1866), thơ.
- Những phác thảo về Italia
(Croquis Italiens, 1866-1868), thơ.
- Nỗi cô đơn
(Les solitudes, 1869), thơ.
- Ấn tượng chiến tranh
(Impression de la guerre, 1870), thơ.
- Nước Pháp
(Le France, 1870), thơ.
- Định mệnh
(Les destins, 1872), thơ.
- Loài hoa nổi loạn
(La révolte des fleurs), thơ.
- Lòng dịu dàng hoài phí
(Les vaines tendresses, 1875), thơ.
- Hạnh phúc
(Le bonheur, 1888), trường ca.
- Công lí
(La justice, 1888), thơ.
- Di chúc thơ
(Le testament poétique, 1900), tiểu luận.
- Tôn giáo đích thực theo Pascal
(La vraie religion selon Pascal, 1905), khảo luận.
- Vấn đề mục đích cuối cùng
(Le problème des causes finale, 1906), khảo luận.
- Tâm lí của sự tự do lựa chọn
(Psychologie du libre arbitre, 1906), khảo luận.
- Phiêu bạt
(Les epaves, xuất bản năm 1908), thơ.


Một số bài thơ



BÌNH VỠ

Hoa mã tiên thảo héo trong bình
Bởi vì cú chạm của quạt nan
Nhẹ nhàng, không ai nghe gì cả
Bởi vì nào có tiếng ngân vang. 

Nhưng vết rạn kia không thể nhìn

Gặm nhấm pha lê mỗi ngày thêm
Với vẻ ẩn mình và chắc chắn
Trên bình vết rạn cứ dần loang. 

Và nước trong bình cứ cạn dần

Nhựa sống trong hoa cũng héo hon
Mà chẳng một ai hề hay biết
Xin chớ chạm tay, đã vỡ bình. 

Bàn tay ta yêu cũng vẫn thường

Chạm vào làm thương tổn trái tim
Rồi để một mình tim rạn vỡ
Hoa của tình yêu cũng héo tàn. 

Mà thấy gì đâu mắt thế gian

Chỉ tim cảm thấy, khóc òa lên
Vết thương mỏng manh mà sâu lắm
Xin chớ chạm vào, đã vỡ tim.


Bản lục bát:
Trong bình hoa đã héo hon
Vì em khẽ chạm quạt nan vô tình
Vết nứt không rõ mắt nhìn
Tháng ngày cứ thế trên bình dần loang.
Bàn tay chạm đến đã quên
Nhưng điều tai họa lớn lên trong bình
Nước dần vơi, hoa héo hon
Bình nay đã vỡ xin đừng chạm tay!

Con tim tôi cũng thế này
Dịu dàng khẽ chạm bàn tay, một lần
Kể từ dạo ấy trong tim
Vết thương còn mãi, dù nhìn chẳng ra.
Tim vẫn sống như ngày qua
Và che giấu nỗi xót xa của mình
Nhưng tai họa cứ lớn lên
Tim nay đã vỡ xin đừng chạm tay!


Le vase brisé


Le vase où meurt cette verveine

D'un coup d'éventail fut fêlé ;
Le coup dut effleurer à peine :
Aucun bruit ne l'a révélé.

Mais la légère meurtrissure,

Mordant le cristal chaque jour,
D'une marche invisible et sûre
En a fait lentement le tour.

Son eau fraîche a fui goutte à goutte,

Le suc des fleurs s'est épuisé ;
Personne encore ne s'en doute ;
N'y touchez pas, il est brisé.

Souvent aussi la main qu'on aime,

Effleurant le coeur, le meurtrit ;
Puis le coeur se fend de lui-même,
La fleur de son amour périt ;

Toujours intact aux yeux du monde,

Il sent croître et pleurer tout bas
Sa blessure fine et profonde ;
Il est brisé, n'y touchez pas.



GIỐNG NHAU

Nếu em muốn biết được vì sao anh
Lại yêu em chân thành, tha thiết vậy?
Em yêu ạ, anh yêu em là bởi
Em giống như thời tuổi trẻ của anh.

Ánh mắt em đầy hy vọng nhưng buồn
Tỏa ánh sáng chói ngời như tia chớp
Trong lòng em ngập tràn bao mơ ước
Em giống như thời tuổi trẻ của anh.

Thân hình em kì diệu và mong manh
Như người đẹp thành Tơ-roa thuở trước
Vẻ lộng lẫy trên mái tóc, trên ngực
Em giống như thời tuổi trẻ của anh.

Tình yêu chân thành, tha thiết cháy lên
Mỗi giây phút lời “yêu em” anh nói
Nhưng em bước đi, không thèm ngoái lại
Em giống như thời tuổi trẻ của anh.


Ressemblance


Vous désirez savoir de moi

D’où me vient pour vous ma tendresse ;
Je vous aime, voici pourquoi :
Vous ressemblez à ma jeunesse.

Vos yeux noirs sont mouillés souvent

Par l’espérance et la tristesse,
Et vous allez toujours rêvant :
Vous ressemblez à ma jeunesse.

Votre tête est de marbre pur,

Faite pour le ciel de la Grèce
Où la blancheur luit dans l’azur :
Vous ressemblez à ma jeunesse.

Je vous tends chaque jour la main,

Vous offrant l’amour qui m’oppresse ;
Mais vous passez votre chemin…
Vous ressemblez à ma jeunesse.



THẠCH NHŨ


Tôi yêu những hang tối tăm, sâu thẳm

Ngọn đuốc xuyên qua màn máu đêm dày
Tiếng vọng buồn càng xa càng văng vẳng 
Tiếng thở dài ngắt quãng giữa chơi vơi. 

Dãy thạch nhũ từ vòm hang rủ xuống

Như nước mắt nóng bỏng hóa thành băng
Giờ chúng rơi từng giọt nhờ hơi ẩm
Rất từ từ, chầm chậm xuống bàn chân.

Dường như ở nơi tăm tối u buồn

Đang ngự trị cõi yên bình đau khổ
Nước mắt rơi, nước mắt rơi muôn thuở
Không bao giờ chấm dứt vẻ tang thương.  

Tôi nghĩ về những tâm hồn đau khổ

Nơi tình yêu dang dở đã ngủ yên
Những giọt lệ sầu giờ đã đóng băng
Nhưng tiếng khóc vẫn khóc hoài nơi đó.

Les stalactites


J'aime les grottes où la torche

Ensanglante une épaisse nuit,
Où l'écho fait, de porche en porche,
Un grand soupir du moindre bruit.

Les stalactites à la voûte

Pendent en pleurs pétrifiés
Dont l'humidité, goutte à goutte,
Tombe lentement à mes pieds.

Il me semble qu'en ces ténèbres

Règne une douloureuse paix ;
Et devant ces longs pleurs funèbres
Suspendus sans sécher jamais,

Je pense aux âmes affligées

Où dorment d'anciennes amours :
Toutes les larmes sont figées,
Quelque chose y pleure toujours.


GIỌT SƯƠNG

Ta nhìn thấy, rất buồn bã trong mơ
Những giọt sương lấp lánh trên đồng cỏ
Bàn tay lạnh của đêm đen đã thả
Những giọt sương lên những cánh hoa.

Những giọt sương rơi xuống từ đâu vậy?
Không mây mù, nơi ấy chẳng hề mưa.
Thì ra trước khi lấp lánh trên hoa
Trong không khí sương đã từng run rẩy.

Những giọt lệ từ đâu trong đôi mắt?
Giữa trời xanh không một dấu vết buồn.
Thì ra trước khi ánh lên trong mắt
Dòng lệ đã từng ấp ủ trong tim.

Đời vẫn thế, bóng giấu mình trong ngực
Nước mắt mơ màng, run rẩy trong tim
Và ngay cả những ngày vui, hạnh phúc
Những giọt lệ buồn vẫn cứ trào dâng.


Rosées


Je rêve, et la pâle rosée 

Dans les plaines perle sans bruit, 
Sur le duvet des fleurs posée 
Par la main fraîche de la nuit.

D'où viennent ces tremblantes gouttes ? 

Il ne pleut pas, le temps est clair ; 
C'est qu'avant de se former, toutes, 
Elles étaient déjà dans l'air.

D'où viennent mes pleurs ? Toute flamme, 

Ce soir, est douce au fond des cieux ; 
C'est que je les avais dans l'âme 
Avant de les sentir aux yeux.

On a dans l'âme une tendresse 

Où tremblent toutes les douleurs, 
Et c'est parfois une caresse 
Qui trouble, et fait germer les pleurs.
  

TIẾNG THỞ DÀI

Chưa bao giờ nghe tên, chưa nhìn thấy
Chưa bao giờ tôi từng gọi tên em
Nhưng chung thủy và vui lòng chờ đợi
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!

Tôi giang tay hướng về em, cầu nguyện
Chẳng hề gì khép lại cánh tay run
Bởi vòng tay lại về em hướng đến
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!

Chỉ là ước mơ, chỉ là hy vọng
Theo dòng lệ này, như nước, tan nhanh
Tuôn dòng lệ, tôi vui mừng sung sướng
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!

Chưa bao giờ nghe tên, chưa nhìn thấy
Chưa bao giờ tôi từng gọi tên em
Nhưng tôi biết em, tôi cảm tạ em
Đến muôn đời, tôi yêu em, mãi mãi!


Soupir


Ne jamais la voir ni l'entendre,

Ne jamais tout haut la nommer,
Mais, fidèle, toujours l'attendre,
Toujours l'aimer.

Ouvrir les bras et, las d'attendre,

Sur le néant les refermer,
Mais encor, toujours les lui tendre,
Toujours l'aimer.

Ah ! Ne pouvoir que les lui tendre,

Et dans les pleurs se consumer,
Mais ces pleurs toujours les répandre,
Toujours l'aimer.

Ne jamais la voir ni l'entendre,

Ne jamais tout haut la nommer,
Mais d'un amour toujours plus tendre
Toujours l'aimer.


SỰ CỨU RỖI TRONG NGHỆ THUẬT

Nếu chỉ có trời xanh và biển xanh
Màu đỏ của hoa hồng, màu vàng lúa mạch
Thì vẻ đẹp khô khan vuốt ve ánh mắt
Niềm vui của ta thật cay đắng vô cùng.

Nhưng có vẻ đẹp khác ở chốn trần gian:
Nụ cười đắng cay trong nước mắt cúi xuống
Dễ thương hơn cả màu xanh của trời, của biển
Đó là bóng hình người phụ nữ yêu thương.

Linh hồn ta chịu đau khổ muôn năm
Nhưng giữa những bài ca, sau những lời to nhỏ
Đau khổ của tình yêu vẫn đắm đuối mê hồn.

Nghệ thuật hãy cứu ta, như áo giáp binh
Để bóng hình thân thương, ta yêu mà không đau khổ
Như màu của trời xanh, như hương của hoa hồng!


L'art sauveur


S'il n'était rien de bleu que le ciel et la mer, 

De blond que les épis, de rose que les roses, 
S'il n'était de beauté qu'aux insensibles choses, 
Le plaisir d'admirer ne serait point amer.

Mais avec l'océan, la campagne et l'éther, 

Des formes d'un attrait douloureux sont écloses ; 
Le charme des regards, des sourires, des poses, 
Mord trop avant dans l'âme, ô femme ! il est trop cher.

Nous t'aimons, et de là les douleurs infinies : 

Car Dieu, qui fit la grâce avec des harmonies, 
Fit l'amour d'un soupir qui n'est pas mutuel.

Mais je veux, revêtant l'art sacré pour armure, 

Voir des lèvres, des yeux, l'or d'une chevelure, 
Comme l'épi, la rose, et la mer, et le ciel.


HORA PRIMA(1)

Tôi chào đón ngày khi còn chưa thức dậy
Bằng ánh sáng của mình ngày chạm đến thế kỉ tôi
Nhưng tôi chưa nhận ra sự tiếp xúc như vậy
Khi ngày nhìn hồn tôi xuyên qua giấc mơ đời.

Tôi nằm im trên giường, không cử động
Như pho tượng đá trên những nấm mồ
Trong đầu tôi những nghĩ suy rất sáng
Tràn ngập ánh mặt trời, tôi không mở mắt ra.

Tôi cảm thấy như trong ánh bình minh
Chào vầng dương, dàn đồng ca đang hát
Và trong tim tôi có tiếng hót của chim
Không thấy hoa, chỉ mùi hương ngào ngạt.

Ngoài thực tại, ngoài những điều lo lắng
Của cuộc đời, tôi cảm thấy như là
Rất ngọt ngào, tất cả niềm vui sướng
Không ngủ mà đang sống, tựa trong mơ.
__________
(1)Giờ thức tỉnh (tiếng Latinh).


Hora prima


J'ai salué le jour dès avant mon réveil ;

Il colorait déjà ma pesante paupière,
Et je dormais encor, mais sa rougeur première
A visité mon âme à travers le sommeil.

Pendant que je gisais immobile, pareil

Aux morts sereins sculptés sur les tombeaux de pierre,
Sous mon front se levaient des pensers de lumière,
Et, sans ouvrir les yeux, j'étais plein de soleil.

Le frais et pur salut des oiseaux à l'aurore,

Confusément perçu, rendait mon coeur sonore,
Et j'étais embaumé d'invisibles lilas.

Hors du néant, mais loin des secousses du monde,

Un moment j'ai connu cette douceur profonde
De vivre sans dormir tout en ne veillant pas.



LỜI CẦU KHẨN

Giá mà em đã biết được rằng anh
Rất khổ sở vì phải sống một mình
Thì có lẽ một lần em đã đến
Trước cửa nhà anh.

Giá mà em biết được ánh mắt nhìn
Mà em ban an ủi cuộc đời anh
Thì có lẽ có lần em kín đáo
Nhìn vào cửa sổ nhà anh.

Giá mà em biết được có vô vàn
Những khổ đau trong cuộc sống của anh
Thì có lẽ có một lần em đã
Ngồi trước cửa nhà anh.

Giá mà em biết rằng anh yêu em
Một tình yêu chỉ có một trên trần
Thì có lẽ niềm hạnh phúc em đã
Ban tặng cho anh. 


Prière


Ah ! Si vous saviez comme on pleure

De vivre seul et sans foyers,
Quelquefois devant ma demeure
Vous passeriez.

Si vous saviez ce que fait naître

Dans l'âme triste un pur regard,
Vous regarderiez ma fenêtre
Comme au hasard.

Si vous saviez quel baume apporte

Au coeur la présence d'un coeur,
Vous vous assoiriez sous ma porte
Comme une soeur.

Si vous saviez que je vous aime,

Surtout si vous saviez comment,
Vous entreriez peut-être même
Tout simplement.


TRÊN MẶT ĐẤT NÀY

Tử đinh hương chết trên mặt đất này
Tiếng hót loài chim sao mà ngắn ngủi
Tôi ao ước cho mùa hè còn mãi
Đến muôn đời…

Và lướt nhanh vô vị những bờ môi
Người hôn người dấu vết không để lại
Tôi ao ước cho nụ hôn còn mãi
Đến muôn đời…

Con người khổ đau trên mặt đất này
Tình bạn tình yêu thảy đều ngắn ngủi
Tôi mong những đôi uyên ương còn mãi
Đến muôn đời… 


Ici-bas


Ici-bas tous les lilas meurent,

Tous les chants des oiseaux sont courts ;
Je rêve aux étés qui demeurent
Toujours...

Ici-bas les lèvres effleurent

Sans rien laisser de leur velours ;
Je rêve aux baisers qui demeurent
Toujours...

Ici-bas tous les hommes pleurent

Leurs amitiés ou leurs amours ;
Je rêve aux couples qui demeurent
Toujours...



MẮT

Những mắt màu xanh, những mắt màu đen
Mắt đã thấy những binh minh vô số
Những mắt kia giờ ngủ yên trong mộ
Còn mặt trời kia vẫn cứ mọc lên.

Trời ban đêm tuyệt đẹp hơn ban ngày
Bởi những vì sao hằng hà sa số
Những vì sao giữa trời giờ sáng tỏ
Còn trong mắt ai bóng tối dâng đầy.

Chẳng lẽ ánh nhìn tắt hết rồi sao?
Không, không thể, điều này không thể có
Mắt vẫn nhìn về một nơi nào đó
Về cõi vô hình mắt vẫn khát khao.

Và những đôi mắt như những ngôi sao
Sao dù khuất nhưng bầu trời vẫn đó
Những đôi mắt có hoàng hôn của họ
Chỉ hoàng hôn – đâu phải cái chết nào.

Những mắt màu xanh, những mắt màu đen
Dù đã khép những bờ mi yêu dấu
Bên kia thế giới bình minh muôn thuở
Vẫn sáng lên những tia sáng diệu huyền.


Les yeux


Bleus ou noirs, tous aimés, tous beaux,

Des yeux sans nombre ont vu l'aurore ;
Ils dorment au fond des tombeaux
Et le soleil se lève encore.

Les nuits plus douces que les jours

Ont enchanté des yeux sans nombre ;
Les étoiles brillent toujours
Et les yeux se sont remplis d'ombre.

Oh ! qu'ils aient perdu le regard,

Non, non, cela n'est pas possible !
Ils se sont tournés quelque part
Vers ce qu'on nomme l'invisible ;

Et comme les astres penchants,

Nous quittent, mais au ciel demeurent,
Les prunelles ont leurs couchants,
Mais il n'est pas vrai qu'elles meurent :

Bleus ou noirs, tous aimés, tous beaux,

Ouverts à quelque immense aurore,
De l'autre côté des tombeaux
Les yeux qu'on ferme voient encore.



NẾU TÔI LÀ THIÊN CHÚA


Nếu tôi là Thiên Chúa, cái chết sẽ không có con mồi
Mọi người đều là người tốt, tôi bỏ cảnh chia ly
Và chúng ta chỉ khóc lên vì vui sướng
Nếu tôi là Chúa Trời.

Nếu tôi là Thiên Chúa, trái cây không có vỏ dày

Công việc sẽ nhẹ nhàng, chỉ như một trò chơi
Vì chúng ta chỉ làm những việc làm theo năng lực
Nếu tôi là Chúa Trời.

Nếu tôi là Thiên Chúa, thì cho em, người yêu của tôi

Tôi sẽ mở ra cho em bầu trời mãi mãi xanh tươi
Nhưng tôi giữ em, thiên thần của tôi, như vốn có
Nếu tôi là Chúa Trời.

Si j’étais Dieu


Si j’étais Dieu, la mort serait sans proie,

Les hommes seraient bons, j’abolirais l’adieu,
Et nous ne verserions que des larmes de joie,
Si j’étais Dieu.

Si j’étais Dieu, de beaux fruits sans écorces

Mûriraient ; le travail ne serait plus qu’un jeu,
Car nous n’agirions plus que pour sentir nos forces,
Si j’étais Dieu.

Si j’étais Dieu, pour toi, celle que j’aime,

Je déploierais un ciel toujours frais, toujours bleu,
Mais je te laisserais, ô mon ange, la même,
Si j’étais Dieu.



BÓNG


Tặng José-Maria de Heredia 

Bóng dưới mặt trời khi sau khi trước

Vụng về bắt chước hành động của ta
Bóng nghe thì điếc, bóng nhìn mù lòa
Ngẩng đầu lên, bóng đã bò phía trước.

Ta là bóng, là mây giữa trời xanh

Vẻ bất an giữa trời đêm sống động
Trí của ta đâu biết cách tạo dựng
Ta chỉ đi theo số kiếp dẫn đường. 

Ta là bóng thiên thần, mà thiên thần

Là nét thể hiện cuối cùng của Chúa
Trong ta ngời hình bóng Đấng toàn năng.

Mà có thể, trong cõi ấy xa xăm

Cõi hư vô còn vô vàn vô khối
Bóng cõi này sinh tiếp những bóng đen.

L’Ombre


À José-Maria de Heredia 


Notre forme au soleil nous suit, marche, s’arrête,

Imite gauchement nos gestes et nos pas,
Regarde sans rien voir, écoute et n’entend pas,
Et doit ramper toujours quand nous levons la tête.

A son ombre pareil, l’homme n’est ici-bas

Qu’un peu de nuit vivante, une forme inquiète
Qui voit sans pénétrer, sans inventer répète,
Et murmure au Destin : « Je te suis où tu vas. »

Il n’est qu’une ombre d’ange, et l’ange n’est lui-même

Qu’un des derniers reflets tombés d’un front suprême ;
Et voilà comment l’homme est l’image de Dieu.

Et loin de nous peut-être, en quelque étrange lieu,

Plus proche du néant par des chutes sans nombre,
L’ombre de l’ombre humaine existe, et fait de l’ombre.



NHỮNG DÂY XIỀNG


Tôi muốn yêu mọi thứ nên tôi khổ
Vì điều này có vô khối nguyên nhân
Bởi vì luôn luôn có những xích xiềng
Liên kết hồn tôi với bầu hoàn vũ.

Vì cuốn hút, vì say mê tất cả

Hướng chân lý và những gì không rõ
Con tim tôi ràng buộc với mặt trời
Bằng dây vàng với những vì tinh tú.

Bài hát kết bằng giai điệu du dương

Vẻ mềm mại với hồng nhung ràng buộc
Những nụ cười kết tôi vì ánh mắt
Và bờ môi ràng buộc bởi nụ hôn. 

Cả đời tôi trên những cái mong manh

Bị giam cầm bởi ngàn điều yêu thích
Vì những xúc động cho dù nhỏ nhất
Tôi đánh mất một ít bản thân mình. 

Les Chaines 


J’ai voulu tout aimer, et je suis malheureux, 

Car j’ai de mes tourments multiplie les causes ; 
D’innombrables liens freles et douloureux 
Dans l’univers entier vont de mon ame aux choses. 

Tout m’attire a la fois et d’un attrait pareil : 

Le vrai par ses lueurs, l’inconnu par ses voiles ; 
Un trait d’or fremissant joint mon cSur au soleil, 
Et de longs fils soyeux l’unissent aux etoiles. 

La cadence m’enchaine a l’air melodieux, 

La douceur du velours aux roses que je touche ; 
D’un sourire j’ai fait la chaine de mes yeux, 
Et j’ai fait d’un baiser la chaine de ma bouche. 

Ma vie est suspendue a ces fragiles noeuds, 

Et je suis le captif des mille etres que j’aime : 
Au moindre ebranlement qu’un souffle cause en eux 
Je sens un peu de moi s’arracher de moi-meme.



SỰ IM LẶNG VÀ BÓNG TỐI CỦA RỪNG 


Có vô vàn im lặng giữa rừng đêm
Trong rừng tối có bao điều quyến rũ
Đêm không chỉ là đêm – mà rất lạ
Trong lặng im có những nét kín thầm.

Có rất nhiều tiếng động giữa bóng đêm

Như ánh sáng sao trời, như dòng cát
Theo ký ức của mình mà diễn dịch
Như mạch nguốn bí ẩn tự trời xanh.

Nguồn xúc cảm từ rừng đêm nảy sinh

Và tứ thơ bay đi tìm nhịp điệu
Giấc ngủ rừng như giấc ngủ cánh chim.

Giữa rừng đêm con tim sảng khoái hơn

Ta tìm thấy trong rừng giờ gặp gỡ
Lời tỏ tình nghe trong sự lặng im.

Silence et nuit des bois 


Il est plus d'un silence, il est plus d'une nuit, 

Car chaque solitude a son propre mystere : 
Les bois ont donc aussi leur facon de se taire 
Et d'etre obscurs aux yeux que le reve y conduit. 

On sent dans leur silence errer l'ame du bruit, 

Et dans leur nuit filtrer des sables de lumiere. 
Leur mystere est vivant : chaque homme a sa maniere 
Selon ses souvenirs l'eprouve et le traduit. 

La nuit des bois fait naitre une aube de pensees ; 

Et, favorable au vol des strophes cadencees, 
Leur silence est aile comme un oiseau qui dort. 

Et le coeur dans les bois se donne sans effort : 

Leur nuit rend plus profonds les regards qu'on y lance, 
Et les aveux d'amour se font de leur silence.



VÁCH ĐÁ


Hai người trên vách đá cao chót vót
Họ nhắm mắt nghe tiếng biển thì thầm.
“Ta nghe tiếng vui vẻ từ thiên đường
Và nghe tiếng thở than từ địa ngục”.

Hai người tỉnh dậy. Họ nghe tiếng ồn

Của đại dương và lời con sóng hát
Nhưng bài ca cho mỗi người mỗi khác
Mà cuộc đời đặt cho họ trong tim.

La Falaise


Deux hommes sont montés sur la haute falaise ;

Ils ont fermé les yeux pour écouter la mer :
« J’entends le paradis pousser des clameurs d’aise.
Et moi j’entends gémir les foules de l’enfer. »

Alors, épouvantés des songes de l’ouïe,

Ils ont rouvert les yeux sous le même soleil.
L’Océan sait parler, selon l’âme et la vie,
Aux hommes différents avec un bruit pareil.



GỬI CHIM ÉN


Ngươi tự do bay lượn giữa trời xanh

Bằng chuyến bay của mình rất can đảm
Từ những đỉnh cao khắc nghiệt vô vàn
Chẳng bao giờ ngươi rơi vào khổ tận.

Ngươi tự do dìm cho mình cơn khát

Khi trên đường xuyên những đám mây đen
Rồi từ vách núi ngươi lao vun vút
Qua biển xanh và qua những dòng sông.

Vào giữa tiết trời mùa thu ảm đạm

Ngươi giã từ ta có phải chỉ vì
Sau đó trở về từ hoàng hôn tím
Với hoàng hôn ngươi thân thiết nhường kia.

Chỉ tự do và tổ ấm thân quen

Ta ý hợp cùng ngươi trong mọi nhẽ
Thiên nhiên thức dậy trong ta tất cả
Những gì ngươi mang trong trái tim mình.

Cũng như ngươi, ta vô vàn khao khát

Bay trên đôi cánh nhẹ giấc mơ tiên
Ta ước ao bay về nơi đơn độc
Nơi mà ngươi vẫn bay lượn một mình.

Lòng ta chia sẻ cùng ngươi khí thế

Nhưng ta đâu hề ganh tỵ cùng ai
Ta chỉ muốn vẻ bao la, ý chí
Và tình yêu, tình yêu đến muôn đời!

À l’hirondelle


Toi qui peux monter solitaire 

Au ciel, sans gravir les sommets, 
Et dans les vallons de la terre 
Descendre sans tomber jamais ; 

Toi qui, sans te pencher au fleuve 

Où nous ne puisons qu’à genoux, 
Peux aller boire avant qu’il pleuve 
Au nuage trop haut pour nous ; 

Toi qui pars au déclin des roses 

Et reviens au nid printanier, 
Fidèle aux deux meilleures choses, 
L’indépendance et le foyer ; 

Comme toi mon âme s’élève 

Et tout à coup rase le sol, 
Et suit avec l’aile du rêve 
Les beaux méandres de ton vol. 

S’il lui faut aussi des voyages, 

Il lui faut son nid chaque jour ; 
Elle a tes deux besoins sauvages : 
Libre vie, immuable amour.



Ý NGHĨ ĐÃ MẤT


Một ý nghĩ ngọt ngào
Nhẹ nhàng và sâu kín
Nhưng khi tan giấc mộng
Ý nghĩ ấy còn đâu.

Mà con tim khao khát

Ý nghĩ ấy quay về
Ngay cả dù phải chết
Cũng đổi lấy điều kia.

Tôi đã mơ thấy gì?

Điều gì ghê gớm thế
Mà đã tuôn dòng lệ
Và con mắt như mù?

Hạnh phúc trong giây lát

Kỳ diệu đến không ngờ
Nhưng chỉ trong giấc mơ
Mà không là đời thực.

Pensee perdue


 Elle est si douce, la pensee, 

 Qu'il faut, pour en sentir l'attrait, 
 D'une vision commencee 
 S'eveiller tout a coup distrait.

 Le coeur depouille la reclame ; 

 Il ne la fait point revenir, 
 Et cependant elle est dans l'ame, 
 Et l'on mourrait pour la finir.

 A quoi pensais-je tout a l'heure ? 

 A quel beau songe evanoui 
 Dois-je les larmes que je pleure ? 
 Il m'a laisse tout ebloui.

 Et ce bonheur d'une seconde, 

 Nul effort ne me l'a rendu ; 
 Je n'ai goute de joie au monde 
 Qu'en reve, et mon reve est perdu.




CHÉN RƯỢU


Những chiếc chén rẻ tiền và đơn giản
Thường được người ta đem rượu rót đầy
Còn những chiếc chén đắt tiền, sang trọng
Rượu bình thường không xứng với pha lê.

Chiếc chén vàng đặt đàng hoàng trên bệ

Chờ mỏi mòn, mặc dù lớn và sâu
Vì người ta ngại đem rượu rót vào
Sợ làm bẩn hoa văn bằng kim loại. 

Chén chất liệu, hình thức càng giản dị

Càng thường xuyên được đem rượu rót vào
Chén đắt tiền rượu tìm ra càng khó. 

Đời cũng thế: khi người ta yêu nhau

Mà đòi hỏi, mà đi tìm hoàn mỹ
Thì trần gian này chẳng biết tìm đâu. 

La Coupe

Dans les verres épais du cabaret brutal,

Le vin bleu coule à flots et sans trêve à la ronde ;
Dans les calices fins plus rarement abonde
Un vin dont la clarté soit digne du cristal.

Enfin la coupe d’or du haut d’un piédestal

Attend, vide toujours, bien que large et profonde,
Un cru dont la noblesse à la sienne réponde :
On tremble d’en souiller l’ouvrage et le métal.

Plus le vase est grossier de forme et de matière,

Mieux il trouve à combler sa contenance entière,
Aux plus beaux seulement il n’est point de liqueur.

C’est ainsi : plus on vaut, plus fièrement on aime,

Et qui rêve pour soi la pureté suprême
D’aucun terrestre amour ne daigne emplir son cœur.