Anne Patricia Carson (sinh
ngày 21 tháng 6 năm 1950 tại Toronto, Canada) – nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu văn hóa Hy Lạp
người Canada. Ngày 8 tháng 10 năm 2026, Carson được trao giải Nobel Văn học vì “những
tác phẩm táo bạo và đầy sáng tạo của bà – những cuộc đối thoại dí dỏm với truyền
thống cổ điển, qua đó kiến tạo nên các hình thức mới cho văn học đương đại”. Bà trở thành người phụ nữ thứ 19 trong số 123
người đoạt giải thưởng văn học này và là nhà văn Canada thứ hai được vinh danh,
sau Alice Munro.
Anne Carson là con gái của Robert Carson, một nhân viên ngân hàng, và Margaret Carson, một bà nội trợ. Họ có hai người con. Công việc của người cha khiến gia đình phải chuyển nhà thường xuyên vì ngân hàng thường xuyên chuyển chi nhánh đến các thị trấn nhỏ. Anne Carson lớn lên ở những nơi đó. Ở trường trung học, Anne Carson bắt đầu quan tâm đến tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp cổ đại và văn học Hy Lạp. Theo Anne Carson, cô bắt đầu thử viết phác thảo văn học từ khi học lớp hai. Từ đó trở đi, cô luôn ghi chép vào sổ tay.
Anne Carson có một người anh trai là Michael, nhân vật trung tâm của tác phẩm “Nox” sau này. Họ học ở hai trường đại học khác nhau và theo lời nhà văn, họ có những sở thích rất khác nhau. “Anh ấy dính vào ma túy, điều mà tôi cho là ngu ngốc và chúng tôi đã cãi nhau về chuyện đó. Sau đó, khi bị bắt, anh ấy quyết định bỏ trốn khỏi đất nước”. Michael Carson bị bắt vì buôn ma túy, bỏ trốn khi đang được tại ngoại và rời Canada sang Đan Mạch năm 1978. “Ngay trước khi qua đời, anh ấy đã gọi cho tôi lần đầu tiên kể từ năm 1978. Đó là vào năm 2000, và chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện rất kỳ lạ và gượng gạo. Tôi hứa sẽ đến Copenhagen, nơi anh ấy đang sống để gặp anh ấy” Một tuần sau, Anne Carson được vợ của anh trai liên lạc để thông báo về cái chết của anh ấy.
Anne Carson theo học Đại học tại Đại học Toronto. Nhà văn tương lai đã bỏ học hai lần (bà cho rằng nguyên nhân là do không hài lòng với khung học thuật). Một thời gian, bà học nghệ thuật đồ họa tại Cao đẳng Humber. Sau đó, bà quay lại Đại học Toronto. Tại đây, bà lấy bằng cử nhân và thạc sĩ ngành Văn học cổ điển, bảo vệ luận án tiến sĩ về Sappho năm 1981. Bà cũng dành một năm tại Đại học St. Andrews, Scotland, nghiên cứu về ngữ âm Hy Lạp và phê bình văn bản dưới sự hướng dẫn của học giả Kenneth Dover. Sau đó, Anne Carson theo đuổi sự nghiệp học thuật và giảng dạy ngôn ngữ và văn học cổ điển tại nhiều trường đại học ở Canada và Hoa Kỳ. Carson nổi tiếng là người rất bảo vệ đời tư của mình và không khuyến khích việc đọc các tác phẩm của bà theo hướng tự truyện. Thông tin về bà trong các ấn phẩm thường chỉ giới hạn ở cụm từ: “Anne Carson sinh ra ở Canada và dạy tiếng Hy Lạp cổ để kiếm sống”.
Sáng tạo
Sáng tạo của Carson bao gồm thơ, văn xuôi, tiểu luận, kịch và các bản dịch văn học cổ điển. Những đặc điểm nổi bật trong tác phẩm của bà bao gồm sự kết hợp của nhiều thể loại, việc lồng ghép những suy tư triết học, quan sát văn học vào câu chuyện và sự hấp dẫn của di sản văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại. Tác phẩm của bà đôi khi giống như nghiên cứu khoa học hoặc kịch bản sân khấu nhưng trọng tâm hầu như luôn là những câu hỏi quen thuộc: chúng ta muốn gì từ người khác, tại sao chúng ta lại đau khổ vì tình yêu, và làm thế nào để đối phó với mất mát?
Các chủ đề chính luôn là tình yêu, sự cô đơn, ký ức, mất mát, bản chất của ham muốn con người và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nghệ thuật. Dựa trên các chủ đề cổ điển, Carson chuyển chúng vào bối cảnh văn hóa đương đại, kết nối các thần thoại cổ đại với những trải nghiệm và vấn đề hàng ngày của xã hội hiện đại.
Là một nhà ngữ văn học cổ điển, Anne Carson dịch các tác phẩm văn học Hy Lạp cổ đại. Trong số các tác giả mà bà đã dịch tác phẩm có Sappho, Aeschylus, Catullus, Homer, Sophocles và Euripides. Theo Carson, “Homer là thứ đẹp nhất trên thế giới theo mọi nghĩa”. Công việc dịch thuật của bà gắn bó chặt chẽ với công việc văn học của chính bà: đối với bà, các văn bản cổ đại không chỉ đơn thuần là đối tượng nghiên cứu mà còn là nguồn cảm hứng và là nền tảng cho các tác phẩm nghệ thuật mới. Với cuốn sách An Oresteia (2009), một tuyển tập các bản dịch các vở bi kịch của Aeschylus, Sophocles và Euripides, tác giả đã nhận được Giải thưởng Dịch thơ PEN của Mỹ. Một số tác phẩm dịch của bà được coi là những tác phẩm độc lập.
............................................
Giải thưởng
Anne Carson nhận được rất nhiều giải thưởng, ở đây chỉ nêu một số:
*Giải thưởng Pushcart (1997)
*Giải thưởng Griffin và T.S. Eliot (2001)
*Huân chương Canada (2005)
*Giải thưởng PEN cho Dịch thơ (2010)
*Giải thưởng Nữ thân vương xứ Asturias (2020)
*Giải Nobel Văn học (2026).
Thư ký Thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển – người đã gọi điện để thông báo về giải thưởng Nobel kể rằng: “Bà ấy rất ngạc nhiên nhưng hạnh phúc. Tôi có thể nghe thấy điều đó trong giọng nói của bà. Chúng tôi chỉ nói chuyện ngắn gọn. Tất cả những gì bà ấy có thể nói với tôi là bà hiện đang ở Iceland, đang lắng nghe lời của gió”.
Về đời tư, cuộc hôn nhân đầu tiên của Carson với người đàn ông có họ là Giacomelli kéo dài tám năm và kết thúc vào năm 1980. Cuộc hôn nhân thứ hai với nghệ sĩ thị giác Robert Currie, người có những đóng góp vào các cuốn sách của vợ mình. Cả hai cuộc hôn nhân đều không có con. Vào tháng 8 năm 2024, Carson thông báo trong một bài báo trên tạp chí London Review of Books rằng bà đã được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson.
Việc viết lách trở nên khó khăn và hiện tại bà tham gia các lớp học đấm bốc ba lần một tuần như một liệu pháp trong một nhóm đặc biệt dành cho những người cùng mắc bệnh. Mặc dù bị bệnh, bà vẫn tiếp tục thử nghiệm với các hình thức khác nhau. Bà đã dành một bài luận mới cho chủ đề về bệnh tật: vào tháng 11 năm 2025 tại Đại học Princeton trước bốn trăm người nghe, nhà văn đã thuyết trình một bài giảng với tiêu đề đầy ý nghĩa: “Hãy cẩn thận với người có chữ viết run rẩy như cây sậy trong gió” (Beware the man whose handwriting sways like a reed in the wind). Giữa bài giảng bà đeo găng tay đấm bốc và chồng bà đã giúp bà buộc chặt chúng. Văn bản này sẽ được nhà xuất bản New Directions phát hành vào tháng 2 năm 2027.
Thơ và văn xuôi
*Eros the
Bittersweet: An Essay, 1986.
*Short Talks, 1992.
*Glass, Irony and
God, 1995.
*Plainwater:
Essays and Poetry, 1995.
*Autobiography of
Red: A Novel in Verse, 1998.
*Economy of the
Unlost: Reading Simonides of Keos with Paul Celan, 1999.
*Men in the Off
Hours, 2000.
*The Beauty of the
Husband: A Fictional Essay in 29 Tangos, 2001.
*Decreation:
Poetry, Essays, Opera, 2005.
*Nox, 2010.
*Red Doc>, 2013.
*The Albertine
Workout, 2014.
*Nay Rather, 2014.
*Float, 2016.
*Norma Jeane Baker
of Troy, 2019.
*Wrong Norma, 2024.
Dịch thuật
*If Not, Winter:
Fragments of Sappho, 2002 – Dịch Sappho.
*Grief Lessons:
Four Plays by Euripides, 2006 – Dịch Euripides.
*An Oresteia, 2009
– Dịch Aeschylus, Sophocles và
Euripides.
*Antigonick, 2012
– Phóng tác bi kịch của Sophocles.
*Iphigenia among
the Taurians, 2014 – Dịch Euripides
*Bakkhai, 2015 – Dịch/
Phóng tác bi kịch của Euripides.
*The Trojan Women:
A Comic, 2021 – cùng với Rosanna Bruno.
*H of H Playbook,
2021 – Chuyển thể bi kịch của Euripides.
*I Don’t Do
Innocents, 2026 – Kịch phát thanh một màn.
Hiện tại đã có các tác phẩm sau đây dịch ra tiếng Việt: Tình yêu Cay đắng-ngọt
ngào (Eros the Bittersweet: An Essay); Tự truyện của Đỏ (Autobiography of Red:
A Novel in Verse); Tiểu luận Thủy tinh (The Glass Essay); Sách Ê-sai (Book of
Isaiah); Đời sống các thị trấn (The Life of Towns). Chúng tôi dự định in vào cuối
tháng 10 – 2026 nhưng Nhà xuất bản đòi bản quyền nên phải dừng lại. Nếu thời
gian tới vẫn chưa mua được bản quyền thì chúng tôi sẽ post toàn bộ lên mạng,
còn trước mắt, xin phép chỉ trích một số bài thơ.
TIỂU LUẬN THỦY TINH
I
Trong mơ tôi nghe những tiếng lách cách.
Màn đêm nhỏ giọt từ chiếc vòi bạc
xuống dọc sống lưng.
Lúc bốn giờ sáng, tôi thức giấc
nghĩ về người đàn ông
đã rời đi trong tháng Chín.
Người ấy tên là Law.
Khuôn mặt tôi trong gương phòng tắm
có những vệt trắng chảy dài xuống.
Tôi rửa mặt rồi quay lại giường.
Ngày mai tôi sẽ về thăm mẹ.
BÀ MẸ
Bà sống ở vùng đất hoang phương Bắc.
Bà sống chỉ một mình thôi.
Ở đó mùa xuân mở ra như một lưỡi dao.
Tôi đi tàu suốt cả ngày, mang theo bao cuốn sách –
vài cuốn cho mẹ, vài cuốn cho tôi
trong đó có “Toàn tập tác phẩm Emily Brontë”.
Đây là tác giả mà tôi yêu thích.
Đồng thời cũng là nỗi sợ lớn nhất mà tôi định đối mặt.
Mỗi lần về thăm mẹ của tôi
lại thấy mình như đang biến thành Emily Brontë
cuộc đời cô độc bao quanh tôi như vùng đất hoang vu
thân hình vụng về lê bước trên bãi bùn với vẻ biến đổi
nhưng rồi tan biến ngay khi tôi bước qua cánh cửa bếp.
Emily này, chúng ta cần thứ thịt nào đây?
BA NGƯỜI
Ba người phụ nữ ngồi lặng lẽ bên bàn bếp.
Căn bếp của mẹ tôi tối tăm và chật hẹp, nhưng nhìn
qua cửa sổ là vùng đất hoang đang tê liệt vì giá băng.
Nó trải dài tít tắp tầm mắt
Trên dặm đường bằng phẳng trải dài đến tận bầu trời.
Mẹ tôi và tôi cẩn thận nhai món rau xà lách.
Đồng hồ treo tường trong bếp phát ra tiếng vo ve trầm đục
mỗi phút một lần khi kim chỉ qua số mười hai.
Tôi chống cuốn sách của Emily trang 216
lên lọ đựng đường nhưng lén lút quan sát mẹ.
Hàng ngàn câu hỏi dội lên trong mắt tôi.
Mẹ tôi chăm chú nhìn món xà lách của bà.
Tôi lật sang trang 217.
“Trong lúc lao vội qua nhà bếp, tôi va phải Hareton
Người đang treo một ổ chó con mới sinh
Vào phía lưng chiếc ghế đặt ngay ở cửa...”*
Như thể chúng tôi bị thả vào bầu không khí thủy tinh.
Thỉnh thoảng một đôi lời lại xuyên qua lớp kính.
Thuế đánh vào khu đất phía sau. Dưa hấu không ngon
Còn quá sớm để mà ăn dưa hấu.
Người thợ làm tóc trong thị trấn đã tìm thấy Chúa
nên đã đóng cửa tiệm vào mỗi thứ Ba.
Chuột lại chui vào ngăn kéo đựng khăn lau.
Những viên phân nhỏ xíu. Bị gặm nhấm hết
những góc khăn giấy, giá như chúng biết được
giá khăn giấy ngày nay đắt đỏ thế nào.
Đêm nay trời sẽ mưa.
Ngày mai cũng sẽ mưa.
Núi lửa ở Philippines lại phun trào. Cô ấy tên gì nhỉ?
Anderson đã mất rồi... không, không phải Shirley
ca sĩ opera. Người phụ nữ da đen.
Bệnh tình thật kinh hoàng.
Sao không ăn thứ trang hoàng, không thích ớt đỏ?
Từ cửa sổ tôi nhìn thấy lá khô bay trên đồng cỏ
và những mảng tuyết tàn lấm lem vụn lá thông.
Ở giữa vùng đất hoang
nơi mặt đất trũng xuống thành lòng chảo
lớp băng bắt đầu tan ra.
Làn nước đen sẫm lộ ra
đông lại như cơn giận. Mẹ tôi đột nhiên lên tiếng.
Liệu pháp tâm lý đó chẳng giúp ích được gì ư?
Con vẫn chưa quên được anh ta.
Mẹ tôi có cách đúc kết mọi chuyện như thế.
Bà chưa bao giờ thực sự thích Law cả
nhưng lại ủng hộ chuyện tôi có người đàn ông
luôn bên cạnh và tiếp tục sống cuộc đời mình.
Nó chỉ biết nhận còn con chỉ biết cho, hy vọng là sẽ ổn
đó là tất cả những gì mẹ nói sau khi gặp anh ta.
Với tôi, nhận và cho chỉ là những từ sáo rỗng.
vào thời điểm đó, tôi chưa từng biết yêu là gì.
Mọi chuyện cứ như chiếc bánh xe lăn xuống dốc.
Nhưng sáng sớm nay, khi mẹ đang say giấc
tôi đang ở dưới nhà, đang đọc Đồi
gió hú say sưa
khi Heathcliff bám vào khung cửa, nức nở nghẹn ngào:
“Vào đi! Vào đi em!” – với hồn ma của người yêu dấu
Tôi quỳ sụp xuống tấm thảm và bật khóc nức nở.
Bà ấy biết cách treo cổ lũ chó con
bà Emily ấy đã từng.
“Nó không như uống aspirin” tôi yếu ớt đáp lại.
Bác sĩ Haw nói rằng buồn đau là một quá trình dài.
Mẹ cau mày. Việc này thì có ích gì chứ
sao lại đi khơi lại câu chuyện cũ?
Ồ – tôi xòe hay tay ra –
Tôi thắng thế! Tôi nhìn vào mắt bà
Mẹ tôi cười rất tươi. Đúng vậy.
___________
*Những câu trong ngoặc kép từ đây trích từ tiểu thuyết Đồi gió hú của Emily Brontë (1818 – 1848). Emily là một
trong ba chị em nhà Brontë nổi tiếng (Charlotte, Emily và Anne), họ đều là những
tác gia kinh điển của văn học Anh và thế giới. Tiếng Việt có những bài thơ của
cả ba tác giả này in trong cuốn “1001 bài thơ tình nổi tiếng thế giới”, Nxb Văn
học, 2022.
NGƯỜI QUAN SÁT
Whacher – Người quan sát
cách viết từ này theo thói quen của Emily –
đã gây ra sự nhầm lẫn.
Ví dụ như
trong dòng đầu bài thơ “Nói giùm, có phải mùa đông?”
thuộc ấn bản Shakespeare Head.
Nhưng bà ấy đã viết từ “người quan sát”.
Bà ấy là một người quan sát.
Bà quan sát Thượng đế và con người
cơn gió trên vùng đất hoang và màn đêm khắp nơi.
Những đôi mắt, vì sao, bên trong, bên ngoài, thời tiết.
Bà quan sát những thanh chắn thời gian vỡ tan.
Bà chứng kiến trái tim mong manh của thế giới
đã mở toang.
Làm người quan sát không phải là lựa chọn.
Không có một nơi nào để trốn
không có gờ đá nào để leo lên – như một người bơi
nhô lên khỏi mặt nước lúc sắp tắt ánh mặt trời
rũ bỏ những giọt nước, chúng tản ra khắp mọi hướng.
Làm người quan sát không buồn mà cũng chẳng vui
mặc dù bà ấy sử dụng những từ này trong thơ
cũng như dùng cảm xúc ân tình trong tiểu thuyết
ám chỉ bằng uyển ngữ “công việc của người quan sát”.
Nhưng nó không có tên.
Nó trong suốt.
Đôi khi bà gọi nó là Ngài/Anh.
“Emily đang ở trong phòng khách chải thảm”
Charlotte ghi lại vào năm 1828.
Ngay cả ở nhà cũng không thích giao du
không nhìn vào mắt người lạ mỗi khi bước ra ngoài
Emily sống những ngày tháng đầy vẻ gượng gạo
đến mức khiến các nhà viết tiểu sử về bà kinh hãi.
Một người nhận xét: cuộc đời buồn bã và cằn cỗi
sự tẻ nhạt này quả thật đáng thương.
Thất vọng và tầm thường – một người khác nói.
Bà ấy có thể đã là một hoa tiêu tài giỏi
nếu như bà là đàn ông – người thứ ba nói.
Trong khi Emily tiếp tục chải vào thảm câu hỏi này.
Tại vì sao lại chối bỏ thế giới này?
Đối với một kẻ đã gắn kết với Ngài
thế giới có lẽ tựa như một câu văn còn dang dở.
Nhưng giữa người hàng xóm nhớ lại rằng bà ấy
trở về từ một cuộc đi dạo trên vùng đất hoang
gương mặt “bừng sáng một luồng sáng thiêng liêng”
và người chị gái nói với chúng ta rằng
Emily chưa từng kết bạn trong suốt đời mình
có một khoảng trống mà qua đó
một linh hồn nhỏ bé, trần trụi len lỏi.
Nó lướt đi trên mặt nước thẳm sâu
rồi mất hút khỏi tầm mắt như chim hải âu.
Linh hồn nhỏ bé, trần trụi ấy chưa bao giờ bị bắt.
Bà không có bạn bè, không có con cái, không tình dục
không có tôn giáo, không hôn nhân, không có thành công
không có lương và không sợ chết. Bà chỉ làm việc
tổng cộng sáu tháng cuộc đời (tại một trường ở Halifax)
và chết trên ghế sofa lúc 2 giờ chiều một ngày mùa đông
ở tuổi ba mươi mốt. Bà ấy đã dành
phần lớn thời gian cuộc đời để chải thảm
đi dạo trên đồng hoang
hoặc quan sát. Và bà ấy nói rằng
điều này mang lại cho bà sự bình yên.
“Mọi thứ đều tốt đẹp, hài hòa và có lẽ
mọi chuyện vẫn như vậy vào ngày này bốn năm nữa”
bà viết trong cuốn nhật ký năm 1837 của mình.
Nhưng thơ của bà từ đầu đến cuối thảy đều xoay quanh
ngục tối, lồng giam, sự áp bức, dây cương, ổ khóa
song sắt, hàm thiếc, lỗ hổng hẹp, những bức tường.
“Có gì mà ồn ào như thế?” một nhà phê bình hỏi.
“Bà ấy muốn tự do. Chẳng lẽ bà không có tự do sao?
Một lối sống tại gia viên mãn và hợp lý
thế giới mộng tưởng tuyệt vời – sao đập cánh mãi thế?
Cái lồng giam vô hình nào đối với chúng ta
mà bà ấy cảm thấy bị giam cầm trong đó?”
Chà, có muôn vàn cách để trở thành tù nhân
tôi thầm nghĩ khi sải bước trên vùng đất hoang.
Theo lệ thường, sau bữa trưa mẹ sẽ chợp mắt
còn tôi thì bước ra bên ngoài đi thơ thẩn.
Những hàng cây trơ trụi và bầu trời tháng Tư
khắc sâu vào tôi bằng những lưỡi dao ánh sáng.
Có điều gì đó bên trong gợi tôi nhớ về thuở ấu thơ –
đó là thứ ánh sáng của thời gian như ngưng đọng
sau bữa trưa, theo tiếng tích tắc đều đặn của đồng hồ.
và những trái tim khép chặt
và những người cha rời nhà trở lại nơi làm việc
và những người mẹ đứng bên bồn rửa bát trầm tư
về điều gì đó họ chẳng bao giờ nói ra.
Con nhớ nhiều quá đấy
mẹ tôi mới nói với tôi gần đây.
Sao cứ phải giữ lại tất cả những điều đó? Và tôi đáp
Con biết đặt chúng xuống đâu đây?
Bà chuyển sang hỏi chuyện về các sân bay.
Những mảng băng giá quanh tôi đang tan thành bùn
khi tôi bước tiếp qua vùng đất hoang
được sưởi ấm bằng những tia nắng xanh nhạt.
Ở rìa đất hoang, những hàng thông của chúng tôi
ngả nghiêng, đung đưa theo làn gió
thổi về từ một nơi xa xôi nào đó.
Có lẽ điều khó nhất khi mất đi người thương
là phải nhìn năm tháng lặp lại những ngày xưa cũ.
Tựa hồ như tôi có thể nhúng tay mình
vào dòng chảy thời gian và vớt lên
những viên hơi nóng tháng Tư xanh biếc pha sắc lục
của một năm về trước, ở một đất nước khác.
Tôi cảm thấy cái ngày ấy hãy vẫn còn vương vấn
như cuộn băng cũ – ta đang lao nhanh qua khúc cua
lên con dốc dẫn về nhà anh, và những chiếc bóng
của cây chanh và hoa hồng lấp lánh trong cửa kính xe
âm nhạc phát ra từ chiếc radio và anh ấy
hát vang, rồi hôn lên tay trái của tôi.
Law sống trong căn phòng cao, nhìn thấy biển khơi.
Thời gian trong suốt trôi qua bên dưới tôi lúc này
vẫn còn âm thanh chuông điện thoại trong căn phòng ấy
và tiếng xe cộ từ xa, tiếng chim bồ câu dưới cửa sổ
gù gù mát dịu, và giọng nói của anh cất lên:
“Em thật xinh đẹp”. Tôi cảm nhận được trái tim
của vẻ đẹp ấy đang đập trong ngực mình
Không, tôi nói lớn. Tôi cố gắng hạ hai tay xuống
trong không khí, đột nhiên lạnh lẽo và trĩu nặng
cuộn băng video giật mạnh và dừng lại
như một tấm kính dưới một giọt máu.
Tôi đứng chết lặng trong gió và quay lưng
gió ào ạt ập về phía tôi từ vùng đất hoang.
Khi Law rời đi, tôi đau khổ nghĩ mình sắp chết.
Chuyện này chẳng phải là điều hiếm gặp.
Tôi bắt đầu tập thiền.
Mỗi sáng ngồi trên sàn nhà với ghế sofa đối diện
và tụng những đoạn kinh cổ bằng tiếng Latinh.
De profundis clamavi ad te Domine*.
(Từ vực thẳm con kêu Ngài, lạy Chúa)
Mỗi sáng, những hình ảnh lại hiện ra trong tâm trí
tôi dần hiểu đó là thoáng nhìn trần trụi về tâm hồn mình.
Tôi gọi chúng là những bức “Khỏa thân”.
Bức Khỏa thân số 1. Người phụ nữ đơn độc trên đồi.
Cô ấy đứng trong gió.
Đó là một cơn gió từ phương Bắc rất dữ dội
Những mảng thịt dài bị xé toạc khỏi cơ thể người đàn bà
rồi chúng bị gió cuốn bay đi, chỉ còn để lại
một cột trơ trụi gồm dây thần kinh, máu và cơ bắp
khẽ cất tiếng gọi bằng một cái miệng không môi.
Tôi đau lòng khi phải ghi lại điều này
Tôi không phải là người thích cường điệu.
Nhưng linh hồn được “mài giũa trong xưởng của tự nhiên”
như Charlotte Brontë đã nói trong lời tựa của Đồi gió hú
Lời tựa cho Đồi gió hú là một
kiệt tác truyền thông.
Giống như một người cẩn trọng tránh nhìn con bọ cạp
đang thu mình trên tay vịn ghế sofa, Charlotte
lên tiếng một cách tự tin và êm ả
về những yếu tố khác trong xưởng của Emily –
tinh thần bất khuất (“mạnh hơn đàn ông, đơn thuần hơn trẻ nhỏ”)
căn bệnh tàn khốc (“nỗi đau không ngôn từ nào diễn tả nổi”)
sự ra đi chủ động (“lụi tàn nhanh chóng, vội rời bỏ chúng ta”)
và về sự quy phục tuyệt đối của Emily
với dự án mà cô chẳng thể hiểu hay điều khiển
và cô chẳng đáng bị khen hay chê trách gì hơn
so với việc cô đã mở miệng
“để thở ra tia chớp.” Con bọ cạp đang bò
dọc tay vịn ghế sofa trong khi Charlotte
vẫn tiếp tục hào hứng nói về sấm chớp
và những hiện tượng thời tiết khác mà ta có thể gặp
khi bước vào bầu khí quyển đầy điện tích của Emily.
“Nỗi kinh hoàng của bóng tối mịt mùng” đang chờ đón ta.
Nhưng Emily không đáng bị đổ lỗi. Emily đã bị mắc kẹt.
“Cô tạo ra những nhân vật này mà không biết mình đã làm gì”
Charlotte nói (về Earnshaw, Catherine và Heathcliff).
Vâng, có nhiều cách để trở thành tù nhân.
Con bọ cạp nhảy nhẹ nhàng và đáp xuống đầu gối trái
Charlotte kết luận: “Cô không hề thương xót bản thân mình”.
Ngay cả những ngọn đồi, mà Emily đặt tên là Gió hú
cũng tàn nhẫn không kém vì những cơn gió điên cuồng
“những cơn gió mạnh”, “cơn gió bắc hung dữ”.
Quan sát cơn gió bắc giày xéo vùng đất hoang
bao quanh mọi phía ngôi nhà của cha mình
được tạo thành từ loại đá mà người ta gọi là đá cối
đã dạy cho Emily về tình yêu và những nhu cầu của nó –
một bài học định hình cách các nhân vật lợi dụng lẫn nhau
“Tình yêu của tôi dành cho Heathcliff” Catherine nói
“tựa như những khối đá vĩnh cửu nằm sâu bên dưới
chẳng mang lại nhiều niềm vui nhưng nó lại rất cần”.
Cần ư? Tôi chợt nhận thấy ánh mặt trời đã nhạt dần
và không khí buổi chiều dần trở nên buốt lạnh.
Tôi quay người, bắt đầu băng qua vùng đất hoang
để trở về nhà. Đâu là những sức mạnh
khiến những người như Heathcliff và Catherine
gắn kết với nhau rồi chia lìa, tựa như những lỗ hổng
hình thành trên đá nóng bị sóng đánh dạt vào bờ
tách rời nhau khi hòn đá nguội đi? Sự cần thiết này là gì?
Lần cuối tôi gặp Law là vào một đêm tối tháng Chín.
Mùa thu đã bắt đầu
đầu gối tôi lạnh cóng dưới lớp quần áo.
Một mảnh trăng lạnh lẽo mọc nhô lên.
Anh ấy đứng trong phòng khách của tôi và nói
không nhìn tôi. Một nỗ lực để tránh mặt tôi
anh ấy nói về năm năm tình yêu của hai người.
Tôi cảm thấy trái tim trong ngực mình tan vỡ
rồi theo nhiều hướng khác nhau. Giờ tôi lạnh đến nỗi
cảm giác như lửa đốt. Tôi định chạm tay mình
vào tay của anh ấy. Nhưng anh rụt tay lại.
“Anh không muốn quan hệ tình dục với em” – anh ấy nói.
Tôi phát điên. Nhưng giờ anh ấy đang nhìn tôi.
“Được thôi”, tôi nói và bắt đầu cởi quần áo.
Chuyện này khiến tôi phát điên. Sau khi khỏa thân
tôi quay lưng lại vì anh ấy thích tư thế đó.
Anh di chuyển vào trong tôi sát hơn.
Những gì tôi biết về tình yêu và những gì nó cần
tôi đã học được ngay trong cái khoảnh khắc ấy
khi tôi thấy mình
đang ưỡn cái mông nhỏ đỏ rực như con khỉ đầu chó
về phía người đàn ông không còn yêu tôi nữa
Chẳng có ngóc ngách nào trong tâm trí tôi
mà không kinh hãi trước những hành động này
cũng chẳng có phần nào trên cơ thể tôi có thể hành xử khác
Nhưng nói về thân và tâm lại dẫn đến một câu hỏi khác.
Linh hồn chính là nơi chốn ấy
căng ra như bề mặt đá mài thô ráp nằm giữa thân và tâm
nơi sự cần thiết như thế tự nghiền nát chính mình.
Tôi dõi theo linh hồn mình suốt đêm hôm đó.
Law ở bên tôi. Chúng tôi nằm trên lớp chăn
như thể chẳng phải là đêm để ngủ hay để đếm thời gian
âu yếm và hát cho nhau nghe bằng thứ ngôn ngữ
do chúng tôi nghĩ ra, tựa như những đứa trẻ thuở nào.
Đó là một đêm cả Thiên đường và Địa ngục gặp nhau
như cách Emily vẫn thường nói. Chúng tôi đã nỗ lực ân ái
nhưng anh vẫn mềm nhũn, dù rất vui. Tôi đạt cực khoái
hết lần này đến lần khác, mỗi lần lại tỉnh táo hơn ra
cho đến khi tôi thấy mình lơ lửng trên cao, sát trần nhà
nhìn xuống hai linh hồn đang quấn quýt trên chiếc giường kia
với những ranh giới phàm trần của họ
hiện rõ quanh họ tựa như những đường nét trên bản đồ.
Tôi thấy những đường nét ấy dần trở nên cứng.
Anh ấy rời đi vào buổi sáng.
Trời rất lạnh
khi đi bộ ngược chiều cơn gió tháng Tư rít gào.
Thời điểm này trong năm chẳng có cảnh hoàng hôn nào
chỉ một vài chuyển động trong luồng sáng rồi tắt ngấm.
_____________________
*Từ vực thẳm con kêu Ngài, lạy Chúa – câu này trong nguyên bản viết bằng
tiếng Latinh: De profundis clamavi ad te Domine. Đây là những lời mở đầu khúc
Thánh Vịnh 129 (hoặc 130 – theo bảng phân loại của Kinh thánh Septuagint/Vulgata). Trong thế giới
phương Tây câu này đã từ lâu trở nên nổi tiếng qua bức thư của Oscar Wilde gửi
cho Alfred Douglas (người tình của ông) khi ông ngồi tù 2 năm. Đầu tiên Oscar
Wilde đặt tên bức thư là Epistola: In Carcere et Vinculis (tiếng Latinh: Bức
thư từ chốn ngục tù). Sau đó một người bạn thân của ông – Robert Ross đổi thành
De Profundis (Tiếng kêu từ vực thẳm) để xuất bản vào năm 1905 và 1912.
NHÀ BẾP
Khi tôi bước vào, căn bếp lặng như tờ.
Không một tiếng động nào từ những căn phòng khác.
Tôi đợi một lát
rồi mở tủ lạnh ra.
Sáng như tàu vũ trụ, nó toát ra vẻ lạnh lùng bối rối
Mẹ tôi sống một mình và ăn ít nhưng tủ đầy ắp đồ.
Sau khi lấy một hộp sữa chua
ra khỏi đống bánh Giáng sinh được sắp xếp khéo léo
được bọc trong giấy bạc, và những lọ thuốc kê đơn
tôi đóng cửa tủ lạnh lại. Chạng vạng sắc xanh
bao trùm căn bếp như biển cả.
Tôi dựa vào bồn rửa.
Những món ăn màu trắng là ngon nhất với tôi
và tôi thích ăn một mình. Tôi không biết tại sao.
Tôi từng nghe mấy cô gái hát một bài hát
mừng ngày Quốc tế Lao động với lời bài hát thế này:
Violante trong
phòng để đồ ăn
Cô gặm một khúc
xương
Cô gặm lấy gặm để
Cô ấy cào cấu nó
Khi thấy chỉ một
mình.
Con gái là những người tàn nhẫn nhất với chính mình.
Một số người giống như Emily Brontë, suốt đời vẫn giữ
nguyên tính cách con gái dù thân thể là một người phụ nữ
sự tàn nhẫn len lỏi qua từng kẽ hở như tuyết mùa xuân.
Chúng ta thấy bà từng cố gắng thoát khỏi nó nhiều lần
với cử chỉ tương tự như cách bà lau thảm.
“Hãy khuyên bảo nó, rồi quất cho nó một trận!”
đó là lời dặn của bà (khi mới sáu tuổi) dành cho cha mình
về người em trai Branwell.
Và khi lên 14 tuổi, lúc bị một con chó dại cắn càn
cô bé đã (người ta kể lại rằng) bước thẳng vào bếp
lấy chiếc kẹp sắt từ phía sau bếp lò đang đỏ rực
rồi áp trực tiếp lên cánh tay mình.
Việc “đốt vết thương” cho Heathcliff kéo dài lâu hơn.
Trải dài hơn ba mươi năm trong tiểu thuyết
từ buổi tối tháng Tư khi anh ta chạy ra cửa sau nhà bếp
rồi biến mất vào vùng đất hoang
bởi anh ta tình cờ nghe được nửa câu nói của Catherine:
(“Sẽ là hạ thấp mình nếu tôi kết hôn với Heathcliff”)
cho đến buổi sáng hoảng loạn vô cùng.
Khi người hầu tìm thấy anh ta đã chết và vẫn mỉm cười
trên chiếc giường ướt sũng vì mưa ở tầng trên Đồi gió hú
Heathcliff là một con quỷ đầy đau khổ.
Giá mà anh ta ở lại trong bếp lâu hơn
để nghe nốt vế sau câu nói của Catherine
(“nên anh chẳng bao giờ biết tôi yêu anh đến thế”)
thì Heathcliff có thể đã được giải cứu
Nhưng Emily biết cách giam cầm con quỷ.
Bà đã đặt vào trong anh, thay cho một linh hồn
sự lạnh lùng, xa lánh của Catherine khỏi hệ thần kinh
mỗi khi anh hít thở hoặc suy nghĩ về bất cứ điều gì đó.
Bà đã chia mọi khoảnh khắc của anh thành hai nửa
bằng cánh cửa bếp mở toang.
Không phải là tôi không quen với cuộc sống nửa chừng.
Nhưng đó chưa phải là tất cả.
Nỗi tuyệt vọng về tình dục của Heathcliff
do thiếu trải nghiệm tương tự trong đời của Emily Brontë
theo như những gì chúng ta biết. Câu hỏi của bà
liên quan đến những năm tháng tàn nhẫn bên trong bà
thứ có thể biến con người thành một con quỷ đau khổ
đã nảy sinh trong căn bếp ấm áp ánh lửa
(nơi Emily viết là “kichin”), nơi bà
cùng Charlotte và Anne ngồi gọt khoai tây
rồi cùng nhau sáng tác những câu chuyện
về chú chó già Keeper (giữ cửa) nằm dưới chân.
Có một đoạn
trong bài thơ bà viết năm 1839
(khoảng sáu năm trước khi “Đồi gió hú” ra đời):
Người đàn ông sắt
này sinh ra giống tôi
Anh ấy là một cậu
bé hiếu động:
Thuở ấu thơ, hẳn
đã từng cảm nhận
Vẻ huy hoàng của bầu
trời mùa hè.
Người đàn ông sắt đá này là ai?
Giọng mẹ tôi vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ
từ phòng bên, nơi bà đang nằm trên ghế sofa.
Con đấy à, con yêu?
Vâng, mẹ.
Sao con không bật đèn lên?
Từ cửa sổ tôi thấy những vệt vàng
Cuối cùng của trời tháng Tư sắc lạnh
Giữa bầu trời bạc màu và ảm đạm
Tối nay ăn gì đây? Mẹ con mình.
The Glass Essay
I
Ê-sai thức dậy trong cơn giận.
Không phải tiếng hót của chim đen bên tai Ê-sai mà là cơn giận.
Chúa đã lấp đầy đôi tai Ê-sai bằng những mũi kim châm.
Đã có thời Chúa và Ê-sai là bạn.
Họ từng trò chuyện hằng đêm
Ê-sai thường vội chạy ra khu vườn.
Họ trò chuyện dưới Nhánh Cây khi màn đêm buông xuống.
Chúa khiến Ê-sai rùng mình từ đầu đến chân.
Ê-sai từng yêu Chúa, nhưng giờ đây tình yêu ấy đã thành đau đớn.
Ê-sai muốn đặt tên cho nỗi đau đó, ông gọi nó là tội lỗi.
Giờ đây Ê-sai tự coi mình là một dân tộc, một giống người.
Ông gọi dân tộc ấy là Giu-đa
và tội lỗi kia là tình trạng của người Do Thái.
Chúa nhìn thấy bề mặt thế giới đang bốc cháy bên trong Ê-sai.
Ê-sai và Chúa nhìn nhận mọi sự khác nhau
tôi chỉ có thể kể lại những hành động của họ.
Ê-sai lên tiếng với dân tộc ấy.
Sự yếu đuối của con người! Ê-sai kêu lên.
Mọi người cựa quậy trong vỏ bọc của họ rồi lại ngủ chìm.
Hai mảng thịt đẫm máu nằm trên mắt họ như đôi cánh.
Dân tộc ấy ngủ say, cứng đờ như một bức tranh bóng loáng.
Ai có thể tạo ra một nỗi sợ mới đây?
Vậy mà ta đã tạo ra tội lỗi
Ê-sai nghĩ, tay lần dò những nốt xoay.
Và rồi, vì sức hút mãnh liệt giữa họ – điều mà Ê-sai
đã đấu tranh (ủng hộ và phản đối) suốt phần đời còn lại –
Chúa đã phá tan sự thờ ơ của Ê-sai.
Chúa gội đầu Ê-sai bằng lửa.
Chúa tước đi điểm tựa.
Từ bên dưới đôi cánh bằng thịt, dân tộc ấy lắng nghe.
Ngài – Ê-sai nói.
Không có câu trả lời.
Con không nghe thấy Ngài, Ê-sai lại lên tiếng dưới Nhánh Cây.
Ánh sáng chói lòa làm màn đêm bừng tỉnh.
Chúa xuất hiện.
Chúa đập vỡ Ê-sai như thủy tinh trong từng hốc mắt của dân tộc ông.
Kẻ dối trá! – Chúa phán.
Ê-sai đặt tay lên áo rồi đặt tay lên mặt mình.
Ê-sai là một kẻ nhỏ bé – ông nói – nhưng không phải kẻ dối trá.
Chúa khựng lại.
Và đó chính là giao ước của họ.
Mong manh ở cả hai phía, nhưng không ai được phép dối lừa.
Vợ Ê-sai bước đến cửa và khung cửa khép lại.
Tiếng động gì vậy? – vợ của Ê-sai hỏi.
Sự kính sợ Chúa, Ê-sai đáp lời.
Ông mỉm cười trong bóng tối, còn bà quay trở vào nhà.
Book of Isaiah, Part I
BY ANNE CARSON
I.
Isaiah awoke angry.
Lapping at Isaiah’s ears black birdsong no it was anger.
God had filled Isaiah’s ears with stingers.
Once God and Isaiah were friends.
God and Isaiah used to converse nightly, Isaiah would rush into the garden.
They conversed under the Branch, night streamed down.
From the sole of the foot to the head God would make Isaiah ring.
Isaiah had loved God and now his love was turned to pain.
Isaiah wanted a name for the pain, he called it sin.
Now Isaiah was a man who believed he was a nation.
Isaiah called the nation Judah and the sin Judah’s condition.
Inside Isaiah God saw the worldsheet burning.
Isaiah and God saw things differently, I can only tell you their actions.
Isaiah addressed the nation.
Man’s brittleness! cried Isaiah.
The nation stirred in its husk and slept again.
Two slabs of bloody meat lay folded on its eyes like wings.
Like a hard glossy painting the nation slept.
Who can invent a new fear?
Yet I have invented sin, thought Isaiah, running his hand over the knobs.
And then, because of a great attraction between them—
which Isaiah fought (for and against) for the rest of his life—
God shattered Isaiah’s indifference.
God washed Isaiah’s hair in fire.
God took the stay.
From beneath its meat wings the nation listened.
You, said Isaiah.
No answer.
I cannot hear you, Isaiah spoke again under the Branch.
Light bleached open the night camera.
God arrived.
God smashed Isaiah like glass through every socket of his nation.
Liar! said God.
Isaiah put his hands on his coat, he put his hand on his face.
Isaiah is a small man, said Isaiah, but no liar.
God paused.
And so that was their contract.
Brittle on both sides, no lying.
Isaiah’s wife came to the doorway, the doorposts had moved.
What’s that sound? said Isaiah’s wife.
The fear of the Lord, said Isaiah.
He grinned in the dark, she went back inside.
II, III, IV....
ĐỜI SỐNG CÁC THỊ TRẤN
Tôi là một học giả nghiên cứu về các thị trấn, xin
Chúa chứng giám cho điều đó. Giải thích công việc của tôi khá đơn giản. Một học
giả là người biết chọn cho mình một chỗ đứng. Từ vị trí ấy, những đường nét nhất
định sẽ hiện ra. Ban đầu, bạn có thể nghĩ rằng chính tôi là người vẽ nên những
đường nét đó, nhưng không phải vậy. Tôi chỉ đơn giản là biết mình nên đứng ở
đâu để nhìn thấy những đường nét vốn đã hiện hữu sẵn ở đó. Và điều bí ẩn, thực
sự là rất bí ẩn là làm thế nào mà những đường nét ấy lại tự khắc họa nên chính
nó. Trước khi có bất kỳ ranh giới, góc độ hay đức hạnh nào tồn tại – thì ai là
người đã đặt ra những câu hỏi đó? Thôi nào, đừng sa đà quá sâu vào việc chú giải.
Một học giả là người biết cách giới hạn bản thân trong phạm vi vấn đề đang được
xem xét.
Sự vật tự khắc họa nên chính nó trong khuôn khổ các
đường nét ấy tạo thành một thị trấn. Nhìn theo cách này, thế giới như chúng ta
vẫn nói, giống như một cuốn sách mở. Nhưng còn những cách diễn giải khác nhau
thì sao? Chẳng hạn, hãy xét đến thị trấn được Lão Tử mô tả trong chương 23 của
cuốn Đạo Đức Kinh: “Người thuận theo Đạo thì hòa cùng Đạo, người thuận theo Đức
thì hòa cùng Đức, người thuận theo sự mất mát thì hòa cùng sự mất mát. Ai thuận
theo Đạo thì được Đạo đón nhận, ai thuận theo Đức thì được Đức đón nhận, ai thuận
theo sự mất mát thì được sự mất mát đón nhận”. Đây có vẻ là một thị trấn khá
quan trọng, nơi một cá nhân có thể vươn xa hơn chính mình, hoặc gặp gỡ chính bản
thân mình, tùy theo lựa chọn của họ.
Tuy nhiên, một học giả khác (Kao) lại có quan điểm
khác về thị trấn của Lão Tử. “Từ được dịch là “mất mát” xuyên suốt đoạn này
nghe chẳng hợp lý chút nào”, Kao nhận xét. “Có khả năng đây là một lỗi chép
sai, thực ra phải là từ ‘thiên’ (trời).” Giờ đây, nếu bạn hay tôi muốn rời bỏ
nơi mình đang sống để đến nơi khác – dù là thị trấn của Lão Tử hay thị trấn của
Kao – chúng ta cần làm rõ một vài chi tiết, chẳng hạn như giọng điệu của Kao.
Ông ấy đang mất kiên nhẫn, đang vô cùng buồn bã, hay chỉ đơn thuần là đang nói
đùa một cách hóm hỉnh? Quan điểm mà bạn chọn về vấn đề này có thể khiến bạn
tách rời khỏi tôi. Từ đó mà hình thành nên các thị trấn. Và rồi, những học giả
xuất hiện.
Tôi không hề nói chuyện tầm phào đâu. Sự tách biệt của
bạn có thể giết chết chính bạn, trừ khi tôi chữa cho bạn như thể đó là một căn
bệnh. Sẽ ra sao nếu bạn bị mắc kẹt tại một thị trấn nơi những quả lê và mùa
đông chỉ là hai biến thể của nhau? Bạn có thể ăn mùa đông không? Không. Bạn có
thể sống sáu tháng bên trong một quả lê đông cứng không? Cũng không. Nhưng có một
nơi, tôi biết rõ nơi đó, nơi bạn sẽ đứng và nhìn thấy quả lê cùng mùa đông đặt
cạnh nhau, tựa như những bức tường đứng cạnh sự tĩnh lặng. Bạn có thể trở thành
chính sự im lặng đó không? Bạn sẽ thấy những mép rìa quanh mình bị cắt bỏ, trả
bạn về một thế giới khác, một thế giới của sự trống rỗng đích thực, theo như
cách gọi của một số người. Theo qua điểm của tôi, chúng ta chẳng qua chỉ là những
vật thể nằm trong một cơn gió đã ngừng thổi. Có những thị trấn bình thường và
những thị trấn khác thường, có những thị trấn mang đầy thương tích, có những thị
trấn trầm mặc và những thị trấn được người ta khắc ghi mãnh liệt, có những thị
trấn dù vô dụng nhưng vẫn đầy nhiệt huyết, kiên cường đấu tranh lại có những thị
trấn mà tuyết trượt từ trên mái nhà xuống với sức mạnh khủng khiếp, đủ để cướp
đi sinh mạng con người. Thế nhưng, chẳng có thị trấn nào là trống rỗng cả (chỉ
có những học giả trống rỗng mà thôi), và cũng chẳng có gì phải hối tiếc. Giờ
thì ta hãy đi tiếp.
Ngày nào cũng gió.
Ngày nào cũng vậy.
Như bức tường chắn trước mặt chúng ta.
Chúng ta bước đi.
Gào lên với nhau, cả hai bên.
Dọc theo con đường.
Thảy đều vô tác dụng.
Khoảng cách giữa chúng ta.
Trở nên đông cứng.
Đó là những khoảng không.
Vậy mà chúng lại đặc quánh.
Đen tối và đau buồn.
Như khe hở giữa những chiếc răng.
Của một người đàn bà già khụ.
Người mà anh biết từ nhiều năm trước đó.
Khi bà ấy còn xinh đẹp với những dây thần kinh
Lan tỏa trong người như ngọn lửa trong cung điện.
Thị trấn Mùa xuân Lại về
Một cụ già người Trung Hoa nói thế.
Mưa rít lên bên những khung cửa sổ.
Những niềm khao khát từ nơi xa.
Tìm đến với chúng ta.
Thị trấn Lear
Những tiếng chuông vang lên
Đến trước sự im lặng của chuông.
Như sự điên loạn vẫn thường đến trước.
Mùa đông đến trước tuổi thơ.
Mở đầu cho người cha.
Bước vào hố tử.
___________
*Bài thơ gợi nhắc bi kịch “Vua Lia” của William Shakespeare.
Thị trấn Ngã tư Bát-sê-ba*
Bên trong một căn phòng tại Amsterdam.
Rembrandt đã vẽ một giọt sự sống vào trong.
Chính là người xa lạ mà Rembrandt khắc họa.
Ăn mặc như một người phụ nữ khoác áo choàng.
Nàng cầm trong tay sự trần trụi.
Một lá thư trên tay nàng.
Và đang trên hành trình.
Hướng về phía chúng ta từ ý nghĩ.
Dư âm từ nàng lan tỏa.
Ngay cả trước khi chính Rembrandt.
Vẽ nên người xa lạ của chính mình.
Người họa nên nhân vật người xa lạ.
Xuất hiện trong tranh với đầu bù tóc rối.
Như thể vừa trở về.
Sau những chuyến đi dài.
Trên những cung đường và lối nhỏ.
_____________
*Bài thơ này lấy cảm hứng từ bức tranh “Bát-sê-ba với bức thư của vua
David” (tiếng Hà Lan: Bathsheba met de brief van koning David; tiếng Anh:
Bathsheba with king David's letter) là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất
của họa sĩ vĩ đại người Hà Lan Rembrandt Harmenszoon van Rijn, được vẽ vào năm
1654. Bức tranh này lấy cảm hứng từ câu chuyện trong Kinh Thánh: Sách Sa-mu-ên
II (2 Samuel 11). Vua David nhìn thấy Bát-sê-ba tắm từ sân thượng cung điện
mình, rồi say mê nàng và gửi thư triệu tập nàng vào cung để ngủ với ông, sau đó
đã gián tiếp gây ra cái chết cho người chồng là U-ri người Hê-tít.
Thị trấn Sylvia
Tháng Tư Xanh đã đến rồi.
Nó làm khô héo trái tim họ.
Thiêu đốt và bỏ đói nàng*.
Những con mắt bị móc tận gốc rễ.
Chúng nằm la liệt trên bàn.
____________
*Nhân vật có thật trong bi kịch này là Sylvia Likens, một cô gái 16 tuổi
đã bị tra tấn, bỏ đói, thiêu đốt và cuối cùng bị sát hại tại Indianapolis, bang
Indiana vào năm 1965.
Towns are the illusion that things hang together somehow, my pear, your winter.
I am a scholar of towns, let God commend that. To explain what I do is simple enough. A scholar is someone who takes a position. From which position, certain lines become visible. You will at first think I am painting the lines myself; it's not so. I merely know where to stand to see the lines that are there. And the mysterious thing, it is a very mysterious thing, is how these lines do paint themselves. Before there were any edges or angles or virtue— who was there to ask the questions? Well, let's not get carried away with exegesis. A scholar is someone who knows how to limit himself to the matter at hand.
Matter which has painted itself within lines constitutes a town. Viewed in this way the world is, as we say, an open book. But what about variant readings? For example, consider the town defined for us by Lao Tzu in the twenty-third chapter of the Tao Te Ching:
A man of the way conforms to the way; a man of virtue conforms to virtue; a man of loss conforms to loss. He who conforms to the way is gladly accepted by the way; he who conforms to virtue is gladly accepted by virtue; he who conforms to loss is gladly accepted by loss.
This sounds like a town of some importance, where a person could reach beyond himself, or meet himself, as he chose.
But another scholar (Kao) takes a different position on the Town of Lao Tzu. “The word translated 'loss' throughout this section does not make much sense,” admonishes Kao. “It is possible that it is a graphic error for 'heaven.'” Now, in order for you or me to quit living here and go there-either to the Town of Lao Tzu or to the Town of Kao—we have to get certain details clear, like Kao's tone. Is he impatient or deeply sad or merely droll? The position you take on this may pull you separate from me. Hence, towns. And then, scholars.
I am not being trivial. Your separateness could kill you unless I take it from you as a sickness. What if you get stranded in the town where pears and winter are variants for one another? Can you eat winter? No. Can you live six months inside a frozen pear? No. But there is a place, I know the place, where you will stand and see pear and winter side by side as walls stand by silence. Can you punctuate yourself as silence? You will see the edges cut away from you, back into a world of another kind— back into real emptiness, some would say. Well, we are objects in a wind that stopped, is my view. There are regular towns and irregular towns, there are wounded towns and sober towns and fiercely remembered towns, there are useless but passionate towns that battle on, there are towns where the snow slides from the roofs of the houses with such force that victims are killed, but there are no empty town (just empty scholars) and there is no regret. Now move along.
1.Apostle Town
After your death. It was windy every day. Every day. Opposed us like a wall. We went. Shouting sideways at one another. Along the road. It was useless. The spaces between us. Got hard. They are empty spaces. And yet they are solid. And black and grievous. As gaps between the teeth. Of an old woman. You knew years ago. When she was. Beautiful the nerves pouring around in her like palace fire. Town of Spring Once Again 'Spring is always like what it used to be.' Said an old Chinese man. Rain hissed down the windows. Longings from a great distance. Reached us. Lear Town Clamor the bells falling bells Precede silence of bells. As madness precedes. Winter as childhood. Precedes father. Into the kill-hole. Town of Bathsheba's Crossing Inside a room in Amsterdam. Rembrandt painted a drop of life inside. The drop he painted Rembrandt's stranger. Dressed as a woman rippling. With nakedness she has. A letter in her hand she is. Traveling. Out of a thought toward us. Her foam arrives. Before her even when he. Paints Rembrandt's stranger. As Rembrandt he shows. Him bewildered and tousled. As if just in. From journeys. On tracks and side roads. 5.Sylvia Town The burners and the starvers. Came green April. Drank their hearts came. Burning and starving her. Eyes pulled up by roots. Lay on the desk. .............................................
>>>>>>>>



