Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TRANG CHỦ - Danh Mục 37 Nhà thơ Nobel


37 Nhà thơ

đoạt giải Nobel Văn học








































HUY CHƯƠNG NOBEL

Giải thưởng Nobel là một trong những giải thưởng Quốc tế uy tín nhất. Những người đoạt giải được công bố vào tuần thứ hai của tháng mười hàng năm. 

Alfred Nobel là nhà hóa học, kỹ sư và nhà phát minh. Phát minh nổi tiếng nhất của ông là thuốc nổ. Năm 1888, thay vì cáo phó về người anh là Ludvig Emmanuel Nobel qua đời, một tờ báo Pháp đã đăng bức ảnh của Alfred Bernhard Nobel với cáo phó tên là: “Người buôn bán tử thần đã qua đời”. Alfred Nobel tự hỏi mình sẽ giữ lại kỷ niệm nào cho đời. Sau đó, ông quyết định thay đổi di chúc đã viết trước đây. Gần một năm trước khi qua đời vào ngày 27 tháng 11 năm 1895, Alfred Nobel đã quyết định bán tất cả tài sản của mình và gửi vào một ngân hàng. Thu nhập từ vốn lẫn lãi của số tiền này phải thuộc về một Quỹ và sẽ phân phối chúng hàng năm dưới dạng tiền thưởng cho những người trong năm trước đã mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.

Theo Điều lệ của Quỹ Nobel ngày 29 tháng 6 năm 1900: “Các tổ chức trao giải thưởng Nobel phải cung cấp cho mỗi người đoạt giải thưởng tiền mặt, bằng chứng nhận và huy chương vàng có hình Alfred Nobel với dòng chữ tương ứng”.

Huy chương các giải thưởng về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa do nhà điêu khắc, thợ khắc người Thụy Điển Erik Lindberg thiết kế. Huy chương của giải thưởng hòa bình - do nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland thiết kế. Huy chương của giải Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.

Ở mặt trước của các huy chương về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là chân dung của Alfred Nobel và năm sinh, năm mất của ông bằng chữ số La Mã - MDCCCXXXIII - MDCCCXCVI. Chân dung của Alfred Nobel ở các huy chương của giải Hòa bình và giải Kinh tế có chút khác biệt với nhau. Dòng chữ chính ở mặt sau của các huy chương giải Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” (Phát minh làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá), và hình ảnh thay đổi theo các biểu tượng của các tổ chức tương ứng trao giải thưởng Nobel. Ở mặt sau của huy chương giải Hòa bình có dòng chữ: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Ở mặt sau của huy chương giải Kinh tế không có trích dẫn nào cả. 


Các huy chương Nobel có thiết kế giống nhau kể từ năm 1902. Vậy thì tại sao không từ năm 1901, khi các giải thưởng đầu tiên được trao? Vào đầu năm 1901, nhà điêu khắc, thợ khắc tài năng người Thụy Điển Erik Lindberg được giao nhiệm vụ thiết kế các huy chương Nobel của Thụy Điển. Việc thiết kế huy chương của người Na Uy cho giải thưởng Hòa bình được giao cho nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland. Nhưng thiết kế mặt trái của huy chương Nobel Thụy Điển đã không được hoàn thành trước lễ trao giải đầu tiên vào năm 1901. Những người đoạt các giải Nobel năm 1901 đều nhận được một huy chương tạm thời - trên đó có khắc chân dung của Alfred Nobel - như một món quà lưu niệm cho đến khi huy chương thật hoàn thành. Huy chương thật đầu tiên được hoàn thành vào tháng 9 năm 1902. 

Trong những năm 1901-1902, Erik Lindbergh sống ở Paris. Ông chịu sự ảnh hưởng của các họa sĩ khắc Pháp thời kỳ đó. Bức chân dung của Nobel trên mặt trái của các huy chương Thụy Điển đã được hoàn thành đúng hạn vào tháng 10 năm 1901. Lý do của sự chậm trễ là các biểu tượng ở mặt sau của các huy chương cần được tất cả các tổ chức trao giải thưởng Nobel chấp thuận, nhưng một số mâu thuẫn nảy sinh ở đây. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, Erik Lindbergh quyết định quay trở lại Stockholm vào tháng 11 năm 1901 để trình bày ý tưởng của mình. Các đề xuất của ông sau đó đã được chấp nhận và cuối cùng ông đã làm khuôn thạch cao để đúc các huy chương nhưng đã không thể hoàn thành đúng thời hạn. 

Trên tất cả các huy chương Nobel Thụy Điển, tên của những người đoạt giải được khắc rõ ràng ở mặt sau, còn tên của những người đoạt giải giải Hòa bình và Kinh tế được khắc trên cạnh của huy chương và không mấy rõ ràng. Điều này tạo ra một số vấn đề nhất định cho những người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1975 – đó là nhà kinh tế người Liên Xô Leonid Kantorovich và nhà kinh tế người Mỹ Tjalling Koopmans. Huy chương của họ bị trao nhầm ở Stockholm, sau lễ trao giải Nobel, những người đoạt giải trở về quê hương của họ với những huy chương sai tên. Vì điều này xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phải mất bốn năm nỗ lực ngoại giao để trao đổi huy chương giữa các chủ sở hữu.

Một câu chuyện thú vị khác đã xảy ra với các huy chương Nobel của ba người đoạt giải vật lý trong Thế chiến II: người Đức Max von Laue (1914), người Đức Do Thái James Franck (1925), và người Đan Mạch Niels Bohr (1922). Từ năm 1933, Viện Vật lý Lý thuyết của Giáo sư Bohr tại Copenhagen đã trở thành nơi ẩn náu cho các nhà vật lý người Đức gốc Do Thái. Max von Laue và James Frank đã để lại huy chương Nobel của họ ở đó để tránh bị chính quyền Đức tịch thu. Sau khi Đan Mạch bị chiếm đóng vào tháng 4 năm 1940, Bohr bắt đầu lo lắng về sự an toàn của các huy chương, theo hồi ký của nhà hóa học người Hungary gốc Do Thái George de Hevesy (giải Nobel hóa học năm 1943), người làm việc tại cùng viện. Ở Đức Quốc xã, việc chuyển vàng ra nước ngoài được coi là một hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Vì tên của những người đoạt giải đã được khắc trên các huy chương nên việc nhận ra chúng là không hề khó khăn và hậu quả của việc này là rất nghiêm trọng. Một trích dẫn từ hồi ký của George de Hevesy: “Tôi đã đề nghị giấu huy chương, nhưng Bohr không thích ý tưởng đó vì cho rằng người ta có thể tìm thấy chúng. Tôi quyết định đem làm hòa tan chúng. Trong khi lính Đức đang tuần tra dọc theo các đường phố Copenhagen, tôi đã kịp làm hòa tan các huy chương của James Frank và Max von Laue. Sau chiến tranh, Quỹ Nobel đã hào phóng trao tặng huy chương Nobel mới cho Laue và Frank”. Hevesy đã viết cho Laue sau chiến tranh rằng việc làm hòa tan các huy chương là khó khăn vì vàng là một kim loại cực kỳ không phản ứng. Lính Đức quốc xã đã chiếm viện Bohr và lục soát rất kỹ càng nhưng không tìm thấy gì. Các huy chương được làm tan chảy trong dung dịch vodka hoàng gia. Hevesy không đề cập đến huy chương Nobel của Niels Bohr. Nhưng các tài liệu Lưu trữ về Niels Bohr ở Copenhagen cho thấy huy chương của ông cũng như huy chương Nobel về Sinh lý học và Y khoa năm 1920 của August Krogh đã được tặng cho cuộc đấu giá tổ chức ngày 12 tháng 3 năm 1940 để ủng hộ Quỹ Cứu trợ Phần Lan. Các huy chương này được một người giấu tên mua lại và tặng cho Bảo tàng Lịch sử Đan Mạch, nơi chúng vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay. 

Mặt trước của các huy chương Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là giống nhau như đã nói ở trên. Mặt sau của huy chương Nobel Văn học mô tả một chàng trai trẻ ngồi dưới cây nguyệt quế, đang say mê lắng nghe và ghi lại bài hát của Nàng thơ. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes”. (Sáng tạo làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá). Nội dung này lấy ý tưởng từ hai câu thơ trong thiên sử thi Aeneid của Virgil (Khúc ca VI, dòng 662-663):

Quique pii vates et Phoebo digna locuti,
Inventas aut qui vitam excoluere per artis,
(Cho những ai trong số các nhà tiên tri nói rằng chỉ Phoebus là xứng đáng
Cho những ai tô điểm cho đời bằng cách tạo ra nghệ thuật cho người phàm).

Cũng cần nói rằng câu “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” dịch ra tiếng Việt có thể dịch theo nghĩa đen hoặc bóng và cho từng lĩnh vực cũng cần phải dịch tương thích. Thí dụ từ “phát minh” dùng trong các lĩnh vực Vật lý, Hóa học hay Sinh lý học và Y khoa thì trong Văn học phải là “sáng tạo”… 
Phía dưới hình của Nàng thơ và chàng trai trẻ khắc tên người được trao giải và dòng chữ “ACAD. SUEC” (viết tắt của Viện Hàn lâm Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Văn học do Eric Lindbergh thiết kế. 


Mặt sau huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa mô tả Thiên tài Y học giữ cuốn sách mở trên đùi và hứng dòng nước chảy từ vách đá để làm dịu cơn khát của một cô gái bị bệnh. Dòng chữ trên huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Y học và cô gái khắc tên người được giải và dòng chữ: “REG. UNIVERSITAS MED. CHIR. CAROL” (viết tắt của từ Hội đồng Nobel của Viện Karonlinska). Huy chương giải Nobel Sinh lý học và Y khoa do Eric Lindbergh thiết kế. 

Hình nghiêng của Alfred Nobel ở mặt trước của huy chương Nobel Hòa bình hơi khác so với chân dung của ông trên các huy chương khác. Trên mặt sau của huy chương này là ba người đàn ông đứng thành vòng tròn trong vòng tay anh em bè bạn. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Dòng chữ “Prix Nobel de la Paix” (Giải Nobel Hòa bình), năm trao giải và tên của người đoạt giải được khắc trên cạnh của huy chương. Huy chương giải Nobel Hòa bình do Gustav Vigeland thiết kế.

Mặt sau huy chương Nobel Vật lý và Hóa học (giống hệt nhau) mô tả nữ thần Tự nhiên nổi lên từ đám mây cầm trên tay sừng dê hoa quả (Cornucopia) tượng trưng cho sự phong phú và giàu có. Đứng bên cạnh là Thiên tài Khoa học đang hé mở chiếc khăn choàng che đầu Nữ thần Tự nhiên. Dòng chữ trên Huy chương Nobel Vật lý và Hóa học có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Khoa học và Nữ thần Tự nhiên là tên của người đoạt giải và dòng chữ: “REG. ACAD. SCIENT. SUEC” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Vật lý và Nobel Hóa học do Eric Lindbergh thiết kế. 

Mặt trước của Huy chương Nobel Kinh tế khắc hình nghiêng của Alfred Nobel và hai chiếc sừng dê hoa quả (Cornucopia) chéo nhau ở phía bên dưới. Dòng chữ vòng quanh ghi: “Sveriges Riksbank till Alfred Nobels Minne 1968” (Ngân hàng Trung ương Thụy Điển tưởng nhớ Alfred Nobel). Trên mặt sau của Huy chương là biểu tượng của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển dưới dạng ngôi sao Bắc Đẩu, ba vương miện nhỏ và một lớn ở trên cùng. Dòng chữ trên mặt sau của huy chương có nội dung: “Kungliga Vetenskaps Akademien” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương Nobel Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2020

Louise Glück - Giải Nobel Văn học 2020

 


Louise Elisabeth Glück (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1943) – nhà thơ và nhà viết tiểu luận người Mỹ đoạt giải Nobel Văn học “vì giọng thơ không thể nhầm lẫn bằng vẻ đẹp nghiêm khắc làm cho sự tồn tại cá nhân trở nên phổ quát”. Trước khi được trao giải Nobel Văn học bà đã giành được nhiều giải thưởng văn học lớn ở Hoa Kỳ, bao gồm Huy chương Nhân văn Quốc gia, Giải thưởng Pulitzer, Giải William Carlos Williams của Hiệp hội thơ ca Mỹ, Giải thưởng Sách Quốc gia, Giải thưởng Hội Nhà phê bình Sách Quốc gia, Giải thưởng Bollingen và nhiều giải thưởng khác.
 
Tiểu sử
Louise Glück sinh ở New York trong một gia đình Do Thái có nguồn gốc Nga (từ mẹ) và Hungary (từ cha). Cha là doanh nhân Daniel Glück (1905–1985), người cùng với anh rể thành lập công ty sản xuất dao và được cấp bằng sáng chế cho dao X-Acto, mẹ là bà nội trợ Beatrice Glück (nhũ danh Grosby, 1909–2011). Chị cả Susana (1941) qua đời trước khi sinh Louise, em gái Teresa Glück (1945–2018), Phó Chủ tịch ngân hàng Citibank, nhà văn, mẹ của nữ diễn viên Abigail Savage. Ngay từ thời thơ ấu, Glück đã được cha mẹ cho học về Thần thoại Hy Lạp và những câu chuyện cổ điển như cuộc đời của Trinh nữ xứ Orléans. Bà bắt đầu làm thơ từ khi còn nhỏ.
 
Thời niên thiếu  Louise mắc chứng biếng ăn tâm thần rất trầm trọng. Năm 1961, bà tốt nghiệp trường trung học George W. Hewlett ở Hewlett, New York nhưng vì điều kiện sức khỏe nên không thể vào đại học. Cho đến năm 1968 bà được điều trị bằng phân tâm học, đồng thời tham dự các lớp học cũng như các cuộc hội thảo về thơ ở Cao đẳng Sarah Lawrence. Trong các năm từ 1963 đến 1965 bà học tại Đại học Columbia, nơi giáo viên của bà là Léonie Adams và Stanley Kunitz.
 
Sau khi rời trường Columbia mà không có bằng cấp, Glück kiếm sống bằng công việc thư ký. Bà kết hôn với Charles Hertz, Jr., vào năm 1967. Cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly hôn. Năm 1968, Glück xuất bản tập thơ đầu tiên “Con đầu lòng" (Firstborn) và đã nhận được một số sự chú ý tích cực của giới phê bình. Năm 1971, bà trở thành giáo viên dạy thơ tại Đại học Goddard ở Vermont. Những bài thơ bà viết trong thời gian này được tập hợp trong cuốn sách thứ hai “Ngôi nhà trên đầm" (The House on Marshland, 1975), được nhiều nhà phê bình coi là tác phẩm đột phá, báo hiệu “sự khám phá ra một giọng thơ đặc biệt”.
 
Louise Glück bắt đầu hẹn hò với đồng nghiệp đại học John Dranow, năm 1973 con trai của họ ra đời, năm 1977 họ hợp pháp hóa mối quan hệ nhưng cuộc hôn nhân này cũng nhanh chóng tan vỡ. Năm 1984, bà trở thành giảng viên cao cấp của khoa tiếng Anh tại trường Cao đẳng Williams, Massachusetts. Sau đó, bà tiếp tục là giáo sư thỉnh giảng tại các trường đại học Stanford, Boston và Iowa.
 
Hiện tại bà sống ở Cambridge, Massachusetts.

Đến thời điểm hiện tại chúng tôi đã dịch 35 bài thơ của Louise Glück ra tiếng Việt, một khối lượng vừa đủ để đưa vào Tuyển tập “37 Nhà thơ đoạt giải Nobel” mà chúng tôi đã dịch hàng chục năm nay. 35 bài thơ này được dịch từ nhiều tập thơ khác nhau nhưng nhiều nhất là từ tập “Hoa diên vĩ hoang” – một tập thơ bao gồm 54 bài độc thoại của người phụ nữ làm vườn, của các loài hoa, của Chúa Trời hay các vị thần. Giọng nói mang những thông điệp khác nhau, những kiến thức khác nhau về thế giới, đôi khi mâu thuẫn gay gắt với nhau, nhưng đôi khi không dễ để phân biệt giữa chúng. Chỉ có độc thoại – không có người dẫn chuyện. Thời gian từ sáng đến đêm, từ xuân đến đông, từ sinh đến tử. Vẻ đẹp và bi kịch của cuộc đời đi bên nhau. Tâm lý học tinh tế, phong cách đơn giản. Theo đánh giá của các nhà phê bình, đây là cuốn thơ hay nhất của bà – đoạt giải Pulitzer và giải William Carlos Williams của Hiệp hội thơ ca Mỹ.

Một số địa danh trìu tượng hoặc tên một số loài hoa chưa có tên chính xác bằng tiếng Việt thì chúng tôi không dịch mà để như nguyên bản, thí dụ như: Presque isle; Lamium; Witchgrass… đã đành “witch” là phù thủy, “grass” là cỏ thì dịch là “cỏ phù thủy” nghe cũng có lý, tuy nhiên như đã nói, tiếng Việt vẫn chưa có tên gọi chính xác cho loài cỏ này nên chúng tôi không dịch. Phần chú thích cũng dùng rất hạn chế. Thứ nhất, chúng tôi tôn trọng sự tìm tòi của bạn đọc, mặt khác, hầu hết những nhân vật của Thần thoại Hy Lạp, của Homer đã rất nổi tiếng và chúng tôi cũng đã nhiều lần chú thích ở các nhà thơ khác từng dịch trước đây, mà đặc biệt chú thích nhiều và tỉ mỉ nhất trong tác phẩm “Thần Khúc” của Dante.

Và cuối cùng, một thống kê nho nhỏ nhưng cũng cho thấy đôi điều thú vị. Louise Glück trở thành nữ thi sĩ đầu tiên nhận được giải Nobel Văn học kể từ khi nữ thi sĩ người Ba Lan Wislawa Szymborska nhận giải này vào năm 1996. Ngoài ra, cùng với Alice Munro, Svetlana Alexievich và Olga Tokarczuk, bà là người phụ nữ thứ tư nhận giải Nobel Văn học trong một thập kỷ, và là người thứ mười sáu trong lịch sử của giải thưởng này. Cùng với Alice Munroe, Bob Dylan và Kazuo Ishiguro, Glück là tác giả thứ tư viết bằng tiếng Anh trong thập kỷ này đoạt giải. Louise Glück rõ ràng là nhà thơ tinh tế nhất trong số những người đoạt giải Nobel Văn học trong những năm gần đây. 

Tác phẩm
 
Thơ
*Con đầu lòng (Firstborn), 1968
*Ngôi nhà trên đầm (The House on Marshland), 1975
*Vườn (The Garden), 1976
*Khải hoàn của Achilles (The Triumph of Achilles), 1985
*Ararat, 1990
*Hoa diên vĩ hoang (The Wild Iris), 1992
*Cam giả (Mock Orange), 1993
*Bốn tập thơ đầu (The First Four Books of Poems), 1995
*Đồng cỏ (Meadowlands), 1997
*Cuộc đời mới (Vita Nova), 1999
*Bảy lứa tuổi (The Seven Ages), 2001
*Tháng mười (October), 2004
*Averno, 2006
*Đời sống nông thôn (A Village Life), 2009
*Thơ (Poems) 1962–2012
*Đêm trung thành và đoan chính (Faithful and Virtuous Night), 2014
 
Văn xuôi – Tiểu luận về thơ ca
*Bằng chứng và lý thuyết (Proofs and Theories: Essays on Poetry), 1994
*Đặc thù Mỹ (American Originality: Essays on Poetry), 2017

 

35 bài thơ
 
HUYỀN THOẠI VỀ SỰ TẬN TÂM
 
Khi Hades* quyết định yêu cô gái dễ thương
thần đã xây cho cô một bản sao nơi trần thế
mọi thứ đều giống y, bao gồm đồng cỏ
nhưng có thêm một chiếc giường.
 
Mọi thứ đều giống y, kể cả ánh sáng thường
bởi vì thật khó cho một cô gái trẻ
nhanh chóng từ ánh sáng quen với bóng đêm.
 
Dần dần, thần nghĩ là giới thiệu với cô về đêm
đầu tiên là bóng của những chiếc lá rung rinh.
Sau đó là trăng, sao. Rồi sao trăng chẳng có.
Để Persephone dần dần làm quen với nó.
Cuối cùng, thần nghĩ rằng cô ấy sẽ an tâm.
 
Một bản sao nơi trần thế
ngoại trừ một điều tình yêu chẳng có.
Bởi có ai mà chẳng khát khao tình?
 
Thần đã từng chờ đợi trong nhiều năm
xây một thế giới và thần từng để ý
Persephone hái hoa trên đồng cỏ.
Persephone nếm và ngửi mùi hương.
Nếu đã nếm được một thứ rồi, thần nghĩ
người ta sẽ mong nếm hết, kể cả thần.
 
Chẳng phải ai cũng đều muốn cảm nhận trong đêm
thân xác của người tình, la bàn, ngôi sao dẫn lối
nghe hơi thở êm đềm dường như đang nói rằng
Em còn sống đây thì nghĩa là anh cũng vậy
anh vẫn còn sống vì anh nghe thấy em
anh bên em. Và khi một người quay lưng
thì người kia cũng sẽ quay lưng lại.
 
Đó là cảm nhận của vị chúa tể vương quốc bóng tối
nhìn thế giới mà thần đã tạo cho Persephone.
và nó không bao giờ có trong tâm trí của thần
rằng ở đó sẽ không còn mùi hương nữa
và tất nhiên là chẳng có cả đồ ăn.
 
Cảm giác tội lỗi? Kinh dị? Nỗi sợ của tình?
Thần không thể tưởng tượng được điều như vậy
và chẳng người đang yêu nào có thể hình dung.
 
Thần ước mơ, thần nghĩ về tên gọi cho nơi ấy.
Đầu tiên thần nghĩ: Địa Ngục Mới. Sau đó: Vườn.
Và cuối cùng thần quyết định rằng sẽ gọi
Thời con gái của Persephone.
 
Luồng ánh sáng dịu dàng chiếu trên đồng cỏ
phía sau giường. Thần ôm cô gái vào lòng.
Thần muốn nói rằng: Ta yêu em, ta bảo vệ em.
 
Nhưng thần nghĩ rằng
đó là lời nói dối. Vì vậy cuối cùng thần nói
em đã chết và ta bảo vệ em
và thần ngỡ rằng điều ấy
là khởi đầu hứa hẹn hơn, gần với sự thật hơn.
____________

* Hades (Ha-đét) – thần Âm phủ; Persephone (Pơ-xê-phôn) – bà hoàng Âm phủ, vợ của Hades (xem thêm: “Hades và chuyện tình với Persephone” để hiểu hơn loạt bài thơ về Persephone.    
 
A Myth of Devotion
 
When Hades decided he loved this girl
he built for her a duplicate of earth,
everything the same, down to the meadow,
but with a bed added.
 
Everything the same, including sunlight,
because it would be hard on a young girl
to go so quickly from bright light to utter darkness
 
Gradually, he thought, he'd introduce the night,
first as the shadows of fluttering leaves.
Then moon, then stars. Then no moon, no stars.
Let Persephone get used to it slowly.
In the end, he thought, she'd find it comforting.
 
A replica of earth
except there was love here.
Doesn't everyone want love?
 
He waited many years,
building a world, watching
Persephone in the meadow.
Persephone, a smeller, a taster.
If you have one appetite, he thought,
you have them all.
 
Doesn't everyone want to feel in the night
the beloved body, compass, polestar,
to hear the quiet breathing that says
I am alive, that means also
you are alive, because you hear me,
you are here with me. And when one turns,
the other turns—
 
That's what he felt, the lord of darkness,
looking at the world he had
constructed for Persephone. It never crossed his mind
that there'd be no more smelling here,
certainly no more eating.
 
Guilt? Terror? The fear of love?
These things he couldn't imagine;
no lover ever imagines them.
 
He dreams, he wonders what to call this place.
First he thinks: The New Hell. Then: The Garden.
In the end, he decides to name it
Persephone's Girlhood.
 
A soft light rising above the level meadow,
behind the bed. He takes her in his arms.
He wants to say I love you, nothing can hurt you
 
but he thinks
this is a lie, so he says in the end
you're dead, nothing can hurt you
which seems to him
a more promising beginning, more true.
 
 

HUYỀN THOẠI VỀ SỰ NGÂY THƠ
 
Mùa hè nọ cô gái ra đồng, như thường lệ
dừng lại một chút bên hồ, nơi cô ấy thường
nhìn vào chính bản thân mình, để xem xem
liệu mình có thay đổi gì không. Và cô thấy
vẫn là con người ấy, cái áo của thời con gái
thật khủng khiếp vẫn cứ đeo bám cô nàng.
 
Mặt trời dường như ở dưới nước rất gần.
“Đó là ông chú* tôi đang nhìn”, cô ấy nghĩ –
thảy mọi thứ trong tự nhiên đều rất gần gũi.
Cô nghĩ rằng mình không bao giờ cô đơn
biến ý nghĩ của mình thành lời cầu nguyện.
Rồi cái chết đến, như câu trả lời cho sự cầu xin.
 
Không một ai có thể hiểu được rằng
chàng rất đẹp. Nhưng Persephone nhớ.
Chàng ôm lấy cô ở đây, dưới ánh nhìn
của ông chú đang xem. Và cô vẫn nhớ
ánh mặt trời lấp lánh trên cánh tay trần.
 
Đây là giây phút cuối cùng cô nhớ rõ ràng.
Sau đó thần bóng đêm đã mang cô đi khỏi.
 
Cô gái cũng nhớ lại nhưng không thật rõ
cái lạnh bên trong, mà từ thời điểm này
cô không thể sống thiếu chàng được nữa.
 
Cô gái đã biến mất bên hồ ngày đó
không bao giờ trở lại. Người phụ nữ quay về
bà đi tìm đứa con gái mà mình từng có.
 
Cô gái đứng bên hồ thường xuyên nhắc lại
tôi đã bị bắt cóc, nhưng nó có vẻ như
điều này sai, không như cô cảm thấy.
Sau đó cô nói không ai bắt cóc tôi cả.
Cô nói tôi đã tự dâng hiến bản thân mình
muốn thoát khỏi thân xác phàm trần. Thậm chí
đôi khi muốn điều này. Nhưng sự vô minh
 
thì không thể mong hiểu biết. Sự vô minh
mong sự hình dung mà nó tin rằng tồn tại.
 
Tất cả các danh từ khác nhau như vậy —
cô ấy nói đến chúng luân phiên.
Cái chết, chồng, Chúa, người xa lạ.
Mọi thứ nghe rất đơn giản, quá thông thường.
Cô ấy nghĩ rằng cô hẳn là một người giản dị.
 
Cô không thể nhớ mình là cô gái nọ
nhưng cô nghĩ rằng hồ nước nhớ điều này
và giải thích cho cô ý nghĩa của lời nguyện cầu
để cho cô có thể hiểu
có hay là không đến tai của ai.
________________

*Ông chú là thần mặt trời Helios.
 
The Myth Of Innocence
 
One summer she goes into the field as usual
stopping for a bit at the pool where she often
looks at herself, to see
if she detects any changes. She sees
the same person, the horrible mantle
of daughterliness still clinging to her.
 
The sun seems, in the water, very close.
That's my uncle spying again, she thinks—
everything in nature is in some way her relative.
I am never alone, she thinks,
turning the thought into a prayer.
Then death appears, like the answer to a prayer.
 
No one understands anymore
how beautiful he was. But Persephone remembers.
Also that he embraced her, right there,
with her uncle watching. She remembers
sunlight flashing on his bare arms.
 
This is the last moment she remembers clearly.
Then the dark god bore her away.
 
She also remembers, less clearly,
the chilling insight that from this moment
she couldn't live without him again.
 
The girl who disappears from the pool
will never return. A woman will return,
looking for the girl she was.
 
She stands by the pool saying, from time to time,
I was abducted, but it sounds
wrong to her, nothing like what she felt.
Then she says, I was not abducted.
Then she says, I offered myself, I wanted
to escape my body. Even, sometimes,
I willed this. But ignorance
 
cannot will knowledge. Ignorance
wills something imagined, which it believes exists.
 
All the different nouns—
she says them in rotation.
Death, husband, god, stranger.
Everything sounds so simple, so conventional.
I must have been, she thinks, a simple girl.
 
She can't remember herself as that person
but she keeps thinking the pool will remember
and explain to her the meaning of her prayer
so she can understand
whether it was answered or not.
 
 

KẺ LANG THANG PERSEPHONE (I)
 
Trong giả thuyết đầu tiên, Persephone
bị bắt cóc từ mẹ của mình
và vị nữ thần của trái đất
trừng phạt trái đất – điều này phù hợp
với những gì chúng ta biết về hành vi của con người
 
rằng con người có được sự hài lòng sâu sắc
từ sự gây hại, đặc biệt là
tác hại vô thức:
 
chúng ta có thể gọi cái này là
sự sáng tạo tiêu cực.
 
Thời gian đầu mà Persephone
tạm trú nơi địa ngục vẫn còn tiếp tục
được tranh cãi giữa các nhà khoa học
về cảm giác của cô gái nhà lành:
 
liệu cô có hợp tác trong vụ bắt cóc không
hoặc cô bị đánh thuốc mê và bị hãm hiếp
như xảy ra với các cô gái hiện đại thường xuyên.
 
Như đã biết, sự trở lại của người tình
không bù lại
sự mất mát người yêu dấu: Persephone
 
trở về nhà mình
nhuộm nước trái cây màu đỏ
như một nhân vật trong phim Hawthorne* –
 
Tôi không chắc rằng
giữ lời này: trái đất chẳng lẽ
là “nhà” của Persephone? Có thể hình dung
cô trên giường của thần? Là cô ấy
ở nhà không? Cô ấy
nói cách khác là một kẻ lang thang bẩm sinh
và sự tồn tại
là bản sao của mẹ cô ấy, ít hơn
làm tê liệt những ý tưởng về quan hệ nhân quả?
 
Bạn có quyền không thích
bất cứ ai. Các nhân vật
không phải là người.
Chúng là những khía cạnh của phép song đề hoặc xung đột.
 
Ba phần: giống như tâm hồn được phân tách
bản năng, bản ngã và siêu ngã. Tương thích
 
ba cấp độ của thế giới đã biết
một loại sơ đồ để tách rời
thiên đường với trần gian, với địa ngục.
 
Bạn phải tự hỏi:
tuyết rơi ở đâu?
 
Màu trắng của sự quên lãng
của sự mạo phạm –
 
là tuyết rơi trên mặt đất, cơn gió lạnh nói rằng
 
Persephone trong địa ngục làm tình.
Không giống như chúng ta, cô không hiểu
mùa đông là gì, và chỉ cô ấy
là nguyên nhân của mùa đông.
 
Cô ấy nằm trên giường của thần.
Cô ấy nghĩ điều gì chăng?
Cô có sợ không? Có cái gì đó
xóa sạch những ý nghĩ
của trí tuệ chăng? 
 
Cô ấy biết rằng trái đất
do các bà mẹ điều hành
điều này hẳn thế.
Cô ấy cũng biết rằng
cô đã không còn
được gọi là cô gái nữa
về việc bị giam giữ thì cô tin rằng
 
cô là tù nhân khi còn là gái đồng trinh.
 
Những cuộc đoàn tụ kinh hoàng
sẽ chiếm hết phần đời còn lại.
Khi niềm đam mê cứu rỗi
trở nên mãn tính, ăn sâu vào
bạn không chọn cách sống. Bạn không sống đâu
và bạn cũng không có quyền để chết.
 
Bạn trôi giữa đất đai và cái chết
mà dường như, cuối cùng
giống đến lạ lùng. Các nhà khoa học nói rằng
 
không có ích gì khi bạn biết điều bạn muốn
khi bạn là đối tượng của các thế lực tranh giành
có thể giết chết bạn.
 
Màu trắng của sự quên lãng
màu trắng của sự an toàn –
 
Họ nói rằng
có khoảng trống trong tâm hồn người trần
được tạo ra hoàn toàn không phải để
thuộc về cuộc đời ở trần gian. 
 
Trái đất
yêu cầu ta phủ nhận khe hở, mối đe dọa
ngụy trang dưới dạng gợi ý –
như chúng ta đã thấy
trong câu chuyện về Persephone
mà ta nên đọc cho mình
 
như cuộc tranh cãi giữa mẹ và người tình –
con gái chỉ là xác thịt.
 
Khi đối mặt cái chết cô chưa bao giờ nhìn
thấy đồng cỏ mà không còn hoa cúc.
Đột nhiên cô ấy không còn hát
những bài ca thời con gái của mình
về người mẹ
về vẻ đẹp và đất đai màu mỡ
nơi có rạn nứt, có đổ vỡ, tất nhiên.
 
Bài hát của trái đất
bài hát viễn cảnh thần thoại về cuộc sống vĩnh hằng –
 
Linh hồn của tôi
vì sự căng thẳng tả tơi
cố gắng thuộc về trái đất –
 
Bạn sẽ làm được gì chăng
khi đến lượt bạn trên đồng cỏ với vị thần?
_______________

*Bộ phim y khoa của hãng phim TNT, Mỹ với sự tham gia của Jada Pinkett Smith và Michael Vartan.
 
Persephone the Wanderer (I)
 
In the first version, Persephone
is taken from her mother
and the goddess of the earth
punishes the earth—this is
consistent with what we know of human behavior,
 
that human beings take profound satisfaction
in doing harm, particularly
unconscious harm:
 
we may call this
negative creation.
 
Persephone's initial
sojourn in hell continues to be
pawed over by scholars who dispute
the sensations of the virgin:
 
did she cooperate in her rape,
or was she drugged, violated against her will,
as happens so often now to modern girls.
 
As is well known, the return of the beloved
does not correct
the loss of the beloved: Persephone
 
returns home
stained with red juice like
a character in Hawthorne—
 
I am not certain I will
keep this word: is earth
"home" to Persephone? Is she at home, conceivably,
in the bed of the god? Is she
at home nowhere? Is she
a born wanderer, in other words
an existential
replica of her own mother, less
hamstrung by ideas of causality?
 
You are allowed to like
no one, you know. The characters
are not people.
They are aspects of a dilemma or conflict.
 
Three parts: just as the soul is divided,
ego, superego, id. Likewise
 
the three levels of the known world,
a kind of diagram that separates
heaven from earth from hell.
 
You must ask yourself:
where is it snowing?
 
White of forgetfulness,
of desecration—
 
It is snowing on earth; the cold wind says
 
Persephone is having sex in hell.
Unlike the rest of us, she doesn't know
what winter is, only that
she is what causes it.
 
She is lying in the bed of Hades.
What is in her mind?
Is she afraid? Has something
blotted out the idea
of mind?
 
She does know the earth
is run by mothers, this much
is certain. She also knows
she is not what is called
a girl any longer. Regarding
incarceration, she believes
 
she has been a prisoner since she has been a daughter.
 
The terrible reunions in store for her
will take up the rest of her life.
When the passion for expiation
is chronic, fierce, you do not choose
the way you live. You do not live;
you are not allowed to die.
 
You drift between earth and death
which seem, finally,
strangely alike. Scholars tell us
 
that there is no point in knowing what you want
when the forces contending over you
could kill you.
 
White of forgetfulness,
white of safety—
 
They say
there is a rift in the human soul
which was not constructed to belong
entirely to life. Earth
 
asks us to deny this rift, a threat
disguised as suggestion—
as we have seen
in the tale of Persephone
which should be read
 
as an argument between the mother and the lover—
the daughter is just meat.
 
When death confronts her, she has never seen
the meadow without the daisies.
Suddenly she is no longer
singing her maidenly songs
about her mother's
beauty and fecundity. Where
the rift is, the break is.
 
Song of the earth,
song of the mythic vision of eternal life—
 
My soul
shattered with the strain
of trying to belong to earth—
 
What will you do,
when it is your turn in the field with the god?



KẺ LANG THANG PERSEPHONE (II)

Trong giả thuyết thứ hai thì Persephone đã chết.
Cô ấy chết, mẹ cô ấy đau buồn –
vấn đề tình dục ở đây không nên
làm cho chúng ta quan tâm lo lắng. 

Vì đau buồn Demeter lảng vảng
vòng quanh trái đất. Chúng ta không mong
biết những gì Persephone đang làm.
Cô ấy đã chết, mà người chết là điều bí ẩn.

Chúng ta có
ở đây người mẹ và con số không:
và điều này hoàn toàn 
phù hợp với kinh nghiệm của người mẹ

bà nhìn vào mặt đứa trẻ. Và nghĩ:
Ta nhớ khi con không tồn tại. Đứa bé
đang phân vân, và theo ý của đứa con
thì nó đã luôn tồn tại, giống như rằng

mẹ của nó luôn tồn tại
ở dạng hiện tại của mình. Mẹ cô
giống như một nhân vật ở trạm xe buýt
một khán giả chờ xe buýt tới.
Trước đó bà ấy là xe buýt, ngôi nhà tạm thời
hoặc tiện nghi. Persephone được bảo vệ
nhìn chằm chằm ra cửa sổ của cỗ xe.

Cô ấy nhìn thấy gì?
buổi sáng đầu xuân, vào tháng Tư. Bây giờ

toàn bộ cuộc sống của cô đang bắt đầu
chỉ tiếc rằng nó vô cùng ngắn ngủi. 
Thực tế cô ấy biết rằng như vậy

chỉ có hai người lớn: cái chết và mẹ cô.
Nhưng cả hai
gấp đôi những gì mẹ cô ấy có:
mẹ cô ấy có

chỉ một đứa con, con gái.
Như một vị thần, cô ấy có thể sinh
cả một nghìn đứa con. 

Chúng ta bắt đầu thấy ở đây
bạo lực tiềm ẩn của trái đất

sự thù địch của nó cho thấy rằng
cô ấy không hề ước mong
để tiếp tục như một nguồn sống.

Và tại vì sao giả thuyết này
chưa bao giờ được đem ra bàn cãi? 
Bởi vì nó không có trong lịch sử
nó chỉ tạo ra câu chuyện như vầy.

Trong đau buồn, sau khi con gái chết
người mẹ lang thang trên trái đất.
Người mẹ đang chuẩn bị hồ sơ
như một chính trị gia
bà ấy nhớ mọi thứ và 
không thừa nhận bất cứ điều gì cả. 

Ví dụ, con gái của bà ấy
sinh ra đã không thể chịu nổi
vẻ đẹp của cô ấy không thể chịu nổi.
Bà ấy nhớ Persephone
nhớ sự ngây thơ, dịu dàng của đứa con.

Bà nghĩ gì khi tìm kiếm con gái mình?
Chẳng phải bà ấy đang tiến hành
một cảnh báo có thông điệp ẩn:
bạn đang làm gì bên ngoài cơ thể của tôi chăng?

Bạn sẽ tự hỏi mình:
tại sao cơ thể của người mẹ lại an toàn?

Câu trả lời là
đây là câu hỏi sai, vì

cơ thể của con gái
không tồn tại bất kỳ đâu
nó là một nhánh của cơ thể mẹ
điều đó cần phải
gắn vào bằng bất kỳ giá nào.

Khi một vị thần đau, điều này có nghĩa
là tiêu diệt người khác (như trong chiến tranh)
đồng thời kêu oan để hủy bỏ
các thỏa thuận (cũng như trong chiến tranh):

nếu thần Dớt sẽ đưa cô ấy trở về
nghĩa là mùa đông sẽ kết thúc.

Mùa đông sẽ hết, mùa xuân sẽ về đây.
Những cơn gió nhỏ hay quấy rầy
mà tôi yêu, những bông hoa vàng ngốc nghếch –

Mùa xuân sẽ về và một giấc mơ
dựa trên những lời nói dối:
rằng người đã chết sẽ quay trở lại. 

Persephone
đã quen với cái chết. Và ở đây lần nữa
mẹ của cô lại kéo cô ấy ra đường –

Bạn phải tự hỏi mình:
những bông hoa có thật không? 

Nếu Persephone “trở lại” thì sẽ có
một trong hai lý do:

hoặc cô ấy chưa chết, hoặc
người ta đang sử dụng cô
để hỗ trợ cho điều bịa đặt –

Tôi nghĩ tôi có thể nhớ rằng
mình đang chết. Nhiều lần vào mùa đông
Tôi đến gần Dớt. Xin Ngài nói giùm, tôi hỏi thần
làm thế nào tôi có thể chịu đựng trái đất?

Và vị thần trả lời
trong một thời gian ngắn, con sẽ quay về nữa.
Còn trong khoảng thời gian giữa

con sẽ quên hết mọi thứ:
và những cánh đồng băng đó sẽ
là đồng cỏ của Elysium.

Persephone the Wanderer (II)  

In the second version, Persephone
is dead. She dies, her mother grieves —
problems of sexuality need not
trouble us here.

Compulsively, in grief, Demeter
circles the earth. We don’t expect to know
what Persephone is doing.
She is dead, the dead are mysteries.

We have here
a mother and a cipher: this is
accurate to the experience
of the mother as

she looks into the infant’s face. She thinks:
I remember when you didn’t exist. The infant
is puzzled; later, the child’s opinion is
she has always existed, just as

her mother has always existed
in her present form. Her mother
is like a figure at a bus stop,
an audience for the bus’s arrival. Before that,
she was the bus, a temporary
home or convenience. Persephone, protected,
stares out the window of the chariot.

What does she see? A morning
in early spring, in April. Now

her whole life is beginning — unfortunately,
it’s going to be
a short life. She’s going to know, really,

only two adults: death and her mother.
But two is
twice what her mother has:
her mother has

one child, a daughter.
As a god, she could have had
a thousand children.

We begin to see here
the deep violence of the earth

whose hostility suggests
she has no wish
to continue as a source of life.

And why is this hypothesis
never discussed? Because
it is not in the story; it only
creates the story.

In grief, after the daughter dies,
the mother wanders the earth.
She is preparing her case;
like a politician
she remembers everything and admits
nothing.

For example, her daughter’s
birth was unbearable, her beauty
was unbearable: she remembers this.
She remembers Persephone’s
innocence, her tenderness —

What is she planning, seeking her daughter?
She is issuing
a warning whose implicit message is:
what are you doing outside my body?

You ask yourself:
why is the mother’s body safe?

The answer is
this is the wrong question, since

the daughter’s body
doesn’t exist, except
as a branch of the mother’s body
that needs to be
reattached at any cost.

When a god grieves it means
destroying others (as in war)
while at the same time petitioning
to reverse agreements (as in war also):

if Zeus will get her back,
winter will end.

Winter will end, spring will return.
The small pestering breezes
that I so loved, the idiot yellow flowers —

Spring will return, a dream
based on a falsehood:
that the dead return.

Persephone
was used to death. Now over and over
her mother hauls her out again —

You must ask yourself:
are the flowers real? If

Persephone “returns” there will be
one of two reasons:

either she was not dead or
she is being used
to support a fiction —

I think I can remember
being dead. Many times, in winter,
I approached Zeus. Tell me, I would ask him,
how can I endure the earth?

And he would say,
in a short time you will be here again.
And in the time between

you will forget everything:
those fields of ice will be
the meadows of Elysium.

 
 
KHẢI HOÀN CỦA ACHILLES 
 
Trong câu chuyện của Patroclus
không ai sống sót, kể cả Achilles
người gần như là một vị thần.
Patroclus giống chàng và họ mặc
giống nhau cùng bộ giáp.
 
Luôn ở trong những tình bạn này
người này phục vụ người kia
người này thấp hơn người kia về thứ bậc
luôn rõ ràng, mặc dù các truyền thuyết
thì thật khó để mà tin –
nguồn gốc của chúng là ai sống sót
ai vẫn còn.
 
Những con tàu Hy Lạp bị đốt
có thể so với sự mất mát này chăng?
 
Trong lều của mình, Achilles
buồn đau đến tột cùng
và các vị thần thấy hết
chàng là người đã chết, một nạn nhân
của cái phần đã yêu thương
phần gây chết.
 
The Triumph Of Achilles
 
In the story of Patroclus
no one survives, not even Achilles
who was nearly a god.
Patroclus resembled him; they wore
the same armor.
 
Always in these friendships
one serves the other, one is less than the other:
the hierarchy
is always apparant, though the legends
cannot be trusted--
their source is the survivor,
the one who has been abandoned.
 
What were the Greek ships on fire
compared to this loss?
 
In his tent, Achilles
grieved with his whole being
and the gods saw
he was a man already dead, a victim
of the part that loved,
the part that was mortal.
  


HOA DIÊN VĨ HOANG
 
Ở tận cùng nỗi đau của tôi
có một cánh cửa.
 
Hãy nghe tôi: cái mà em gọi là cái chết
thì tôi nhớ.
 
Tiếng động phía trên, những cành thông rì rào.
Sau đấy không còn gì. Ánh mặt trời yếu ớt
chiếu xuống từ trên cao.
 
Thật khủng khiếp khi tồn tại
có ý thức đủ đầy
lại bị chôn vùi trong lòng đất tối.
 
Nhưng rồi cũng qua. Điều mà em sợ nhất
là thành một linh hồn không thể nói năng
rồi kết thúc đột ngột khi đất uốn cong.
Và tôi cảm nhận rằng có những con chim
chập chờn bay trong những lùm cây thấp.
 
Em như những kẻ không thể nào nhớ nổi
lối quay trở về từ thế giới bên kia
tôi lại nói với em rằng hãy nên quay về
từ sự lãng quên để tìm cho mình giọng nói:
 
từ giữa cuộc đời tôi một đài phun vĩ đại
và mênh mông giữa mặt nước biển xanh
những chiếc bóng xanh đen vui đùa trên đấy.
 
The Wild Iris
 
At the end of my suffering
there was a door.
 
Hear me out: that which you call death
I remember.
 
Overhead, noises, branches of the pine shifting.
Then nothing. The weak sun
flickered over the dry surface.
 
It is terrible to survive
as consciousness
buried in the dark earth.
 
Then it was over: that which you fear, being
a soul and unable
to speak, ending abruptly, the stiff earth
bending a little. And what I took to be
birds darting in low shrubs.
 
You who do not remember
passage from the other world
I tell you I could speak again: whatever
returns from oblivion returns
to find a voice:
 
from the center of my life came
a great fountain, deep blue
shadows on azure seawater.



LAMIUM

Nếu bạn có một trái tim lạnh giá, bạn sẽ sống
như tôi sống, bước qua những viên đá to
trong bóng của những cây phong khổng lồ.

Mặt trời hầu như không chạm vào tôi.
Vào đầu mùa xuân nó mọc lên xa vời.
Sau đó, lá cây xuất hiện và che khuất mặt trời
tôi cảm thấy nó lấp lánh trên lá một cách lơ đãng
như ai đó dùng thìa kim loại gõ vào cốc chén. 

Mọi sinh vật sống đều cần ánh sáng
nhưng mức độ khác nhau. Một số trong chúng ta
tạo ra ánh sáng của riêng mình: một chiếc lá bạc –
như một con đường hoang sơ, một cái hồ
bàng bạc trong bóng tối dưới những cây phong lớn. 

Nhưng bạn đã biết điều này.
Bạn và những người khác đều tin tưởng
rằng sống cho sự thật và có thể là tình yêu
thì đã từng quen với lạnh.

Lamium 

This is how you live when you have a cold heart.
As I do: in shadows, trailing over cool rock,
under the great maple trees.

The sun hardly touches me.
Sometimes I see it in early spring, rising very far away.
Then leaves grow over it, completely hiding it. I feel it
glinting through the leaves, erratic,
like someone hitting the side of a glass with a metal spoon.

Living things don’t all require
light in the same degree. Some of us
make our own light: a silver leaf
like a path no one can use, a shallow
lake of silver in the darkness under the great maples.

But you know this already.
You and the others who think
you live for truth and, by extension, love
all that is cold.
 
 

HOA ANH TÚC ĐỎ
 
Có một điều vĩ đại
là không cần lý trí
còn cảm xúc thì, vâng
cảm xúc tôi ngập tràn
cảm xúc luôn cai trị
tôi có vị chúa tể
được gọi là mặt trời
tôi mở lòng của tôi
con tim tôi đầy lửa
như lửa của mặt trời.
 
Còn gì hơn điều này
còn gì hơn thế nữa?
Anh chị em của tôi
có phải từng như thế
trước khi trở thành người?
Nếu tim cho ai mở
chỉ mở một lần thôi
một lần và mãi mãi
và biết rằng chỉ vậy
không mở lại lần hai
bởi vì rằng thực sự
tôi đang nói lúc này
tôi nói với mọi người
bởi vì tôi tan vỡ.
 
The Red Poppy
 
The great thing
is not having
a mind. Feelings:
oh, I have those; they
govern me. I have
a lord in heaven
called the sun, and open
for him, showing him
the fire of my own heart, fire
like his presence.
 
What could such glory be
if not a heart? Oh my brothers and sisters,
were you like me once, long ago,
before you were human? Did you
permit yourselves
to open once, who would never
open again? Because in truth
I am speaking now
the way you do. I speak
because I am shattered.
 
 

HOA XUYÊN TUYẾT
 
Anh có biết tôi là ai, từng sống thế nào không?
Anh có biết thế nào là tuyệt vọng
thì mới hiểu ra ý nghĩa của mùa đông.
 
Tôi không nghĩ rằng tôi sống nổi
khi tôi bị đất đè lên.
Không mong đợi còn thức dậy một lần
để cảm nhận đất ướt xung quanh cơ thể
để trả lời, để nhớ ra tất cả
và sau một thời gian lại mở lòng
trong ánh sáng lạnh lẽo
của thời tiết đầu xuân –
 
vâng tôi sợ, nhưng một lần nữa giữa các anh
tôi khóc, vâng, niềm vui là mạo hiểm
 
giữa cơn gió lạnh của trần gian.
 
Snowdrops
 
Do you know what I was, how I lived? You know
what despair is; then
winter should have meaning for you.
 
I did not expect to survive,
earth suppressing me. I didn’t expect
to waken again, to feel
in damp earth my body
able to respond again, remembering
after so long how to open again
in the cold light
of earliest spring —
 
afraid, yes, but among you again
crying yes risk joy
 
in the raw wind of the new world.


BUỔI SÁNG RÕ RÀNG

Ta đã theo dõi bạn đủ lâu
để nói chuyện với bạn theo cách phù hợp –

Theo sở thích của bạn, ta kiên nhẫn quan sát
những điều bạn yêu thích, và nói rằng

chỉ qua trung gian, những vật ở trần gian
như bạn muốn

những tua cuốn
của hoa ông lão xanh, ánh sáng

của đầu giờ chiều –
Bạn không bao giờ có thể nghe

một giọng nói như giọng của ta, bạn thờ ơ
với những vật mà bạn vội vàng đặt tên cho chúng

miệng của bạn
vòng bầu dục nhỏ của sự tôn sùng –

Và trong mọi thời gian
ta chiều theo giới hạn của bạn, nghĩ rằng

sớm hay muộn thì bạn cũng sẽ nhận ra cho mình
vật chất sẽ không hoàn toàn hấp thụ ánh nhìn của bạn –

những bông hoa ông lão
những bông hoa màu xanh trên hiên sau cửa sổ –

Ta không thể tiếp theo
giới hạn bản thân ta bằng hình ảnh

bởi vì bạn nghĩ đó là quyền của bạn
để thách thức ý nghĩa của ta:

nhưng ta sẵn sàng ép bạn
nhìn sự vật trong ánh sáng rõ ràng.

Clear Morning

I’ve watched you long enough,
I can speak to you any way I like—

I’ve submitted to your preferences, observing patiently
the things you love, speaking

through vehicles only, in
details of earth, as you prefer,

tendrils
of blue clematis, light

of early evening—
you would never accept

a voice like mine, indifferent
to the objects you busily name

your mouths
smal circles of awe –

And all this time
I indulged your limitation, thinking

you would cast it aside yourselves sooner or late
thinking matter could not absorb your gaze forever –

obstacle of the clematis painting
blue flowers on the porch window –

I cannot go on
restricting myself to images

because you think it is your right
to dispute my meaning:

I am prepared now to force
clarity upon you.



TUYẾT MÙA XUÂN

Hãy nhìn bầu trời đêm:
tôi có hai bản thể và hai sức mạnh.

Tôi ở bên cửa sổ, tôi ở gần bên bạn
quan sát bạn phản ứng. Hôm qua trăng
chiếu trong khu vườn thấp, trên đất ẩm. 
Bây giờ trái đất lấp lánh như trăng
như vật chất chết dưới vỏ ánh sáng.

Bạn có thể nhắm mắt ngay bây giờ.
Tôi nghe bạn khóc và tiếng khóc trước bạn
và những lời yêu cầu đứng đằng sau chúng.
Tôi đã cho bạn thấy những gì bạn mong: 
không phải niềm tin, mà là sự đầu hàng
trước uy quyền vốn dựa vào bạo lực.  

Spring Snow

Look at the night sky:
I have two selves, two kinds of power.

I am here with you, at the window,
watching you react. Yesterday
the moon rose over moist earth in the lower garden.
Now the earth glitters like the moon,
like dead matter crusted with light.

You can close your eyes now.
I have heard your cries, and cries before yours,
and the demand behind them.
I have shown you what you want:
not belief, but capitulation
to authority, which depends on violence.


CUỐI ĐÔNG

Trên thế giới tĩnh lặng, con chim cất tiếng
thức dậy một mình giữa những cành đen.

Bạn muốn sinh ra, ta cho bạn được sinh. 
Có bao giờ nỗi đau của ta cản trở
niềm vui của bạn không?

Lao về phía trước
nơi bóng tối và ánh sáng hòa cùng
khát khao cảm giác tưng bừng

như thể bạn là một sinh vật mới
mong muồn thể hiện bản thân

tất cả rực rỡ, tất cả huy hoàng

đừng bao giờ nghĩ rằng
cho điều này bao nhiêu phải trả
bạn không thể hiểu rằng giọng nói của ta
có điều gì đó khác với chính bạn –

ở thế giới khác bạn sẽ không nghe ra
một lần nữa với sự rõ ràng như vậy
như tiếng chim kêu hay tiếng khóc trẻ thơ

không phải âm thanh rõ ràng, mà chỉ
một tiếng vọng không ngừng
bằng tất cả âm thanh có nghĩa là từ giã –

một dòng âm thanh liên hồi giục giã
điều này gắn kết chúng ta lại với nhau.

End of Winter

Over the still world, a bird calls
waking solitary among black boughs.

You wanted to be born; I let you be born.
When has my grief ever gotten
in the way of your pleasure?

Plunging ahead
into the dark and light at the same time
eager for sensation

as though you were some new thing, wanting
to express yourselves

all brilliance, all vivacity

never thinking
this would cost you anything,
never imagining the sound of my voice
as anything but part of you—

you won't hear it in the other world,
not clearly again,
not in birdcall or human cry,

not the clear sound, only
persistent echoing
in all sound that means good-bye, good-bye—

the one continuous line
that binds us to each other.



VƯỜN  

Tôi không thể làm điều đó một lần nữa
ngay cả nhìn nó cũng không chịu nổi –

trong vườn đang mưa nhẹ
hai người trẻ tuổi đang trồng cây
một hàng đậu Hà Lan, như thể
chưa ai từng làm điều đó trước đây
chưa từng gặp những khó khăn như vầy
mà không vượt qua được như vậy –

Họ không thể nhìn thấy chính mình
trong bùn non, và khởi động
không có viễn cảnh
những ngọn đồi phía sau màu xanh 
màu xanh nhạt có mây mù với hoa bao phủ –

Cô ấy muốn dừng lại
anh ấy muốn đi đến cuối cùng
để cho xong việc ấy –

Và cô gái chạm vào má anh ấy
như một dấu hiệu của sự làm lành
ngón tay của cô ấy lạnh vì mưa xuân
trong đám cỏ mỏng hoa nghệ tây màu tía –

ngay cả bây giờ, khi tình yêu bắt đầu  
sự chuyển động mà cô ấy bỏ tay ra
giấu trong mình hình ảnh của lời tạm biệt

và họ nghĩ
họ có thể bỏ qua
nỗi buồn thoáng qua như vậy.

The Garden

I couldn’t do it again,
I can hardly bear to look at it—

in the garden, in light rain
the young couple planting
a row of peas, as though
no one has ever done this before,
the great difficulties have never as yet
been faced and solved—

They cannot see themselves,
in fresh dirt, starting up
without perspective,
the hills behind them pale green,
clouded with flowers—

She wants to stop;
he wants to get to the end,
to stay with the thing—

Look at her, touching his cheek
to make a truce, her fingers
cool with spring rain;
in thin grass, bursts of purple crocus—

even here, even at the beginning of love,
her hand leaving his face makes
an image of departure

and they think
they are free to overlook
this sadness.



CÂY TÁO GAI

Gần bên nhau, nhưng không
tay trong tay: tôi theo dõi bạn
đi bộ trong khu vườn –
những gì không thể di chuyển
thì học cách nhìn; tôi không cần
phải đi theo bạn
con người rời khu vườn
để lại dấu ấn cảm xúc của mình
ở khắp mọi nơi, hoa
rải rác trên con đường bẩn
những cánh hoa vàng và trắng
chạm vào cơn gió chiều
tôi không cần phải
dõi theo bạn đang ở đâu
trên cánh đồng, để hiểu
lý do của sự vội vàng
đam mê hay giận dữ:
hay gì nữa làm cho bạn vứt bỏ
tất cả những gì bạn nhặt được chăng?

The Hawthorn Tree 

Side by side, not
hand in hand: I watch you
walking in the summer garden—things
that can't move
learn to see; I do not need
to chase you through
the garden; human beings leave
signs of feeling
everywhere, flowers
scattered on the dirt path, all
white and gold, some
lifted a little by
the evening wind; I do not need
to follow where you are now,
deep in the poisonous field, to know
the cause of your flight, human
passion or rage: for what else
would you let drop
all you have gathered?



TÌNH YÊU DƯỚI ÁNH TRĂNG

Đôi khi người phụ nữ hay đàn ông cần
bày tỏ sự tuyệt vọng của mình với ai đó:
trao cả tấm lòng, rộng mở trái tim –
trong khoảnh khắc và có được linh hồn –
bên ngoài là buổi tối mùa hè, cả thế giới
tràn ngập ánh trăng: và những nhóm hình
màu bàng bạc, có thể là nhà hay cây cối
khu vườn nơi con mèo ẩn mình, nằm trong bụi,
hoa hồng, hoa cúc, và, trong bóng tối, ánh vàng
trên mái vòm của điện Capitol 
cùng hòa quyện vào ánh trăng, một hình dạng
không chi tiết, huyền thoại, nguyên mẫu, linh hồn
tràn đầy lửa, thực sự là ánh sáng từ một nguồn
không xác định, trong một thời gian tỏa sáng
khi mặt trăng còn tỏa sáng: dù là đá hay không
theo nhiều cách, trăng vẫn là một sinh vật sống. 

Love in Moonlight

Sometimes a man or woman forces his despair
on another person, which is called
baring the heart, alternatively, baring the soul–
meaning for this moment they acquired souls–
outside, a summer evening, a whole world
thrown away on the moon: groups of silver forms
which might be buildings or trees, the narrow garden
where the cat hides, rolling on its back in the dust,
the rose, the coreopsis, and, in the dark, the gold
          dome of the capitol
converted to an alloy of moonlight, shape
without detail, the myth, the archetype, the soul
filled with fire that is moonlight really, taken
from another source, and briefly
shining as the moon shines: stone or not,
the moon is still that much of a living thing.


THÁNG TƯ

Không thất vọng của ai sánh bằng thất vọng của tôi –

Bạn đắm chìm trong những suy nghĩ như vậy
để lại những dấu vết mệt mỏi
không có chỗ trong khu vườn này
đàn ông thì chăm chăm làm cỏ
phụ nữ đi khập khiễng, không chịu thay quần áo
gội đầu tóc cho mình. 

Bạn nghĩ rằng tôi 
quan tâm đến chuyện của hai người?
Tôi muốn bạn biết:
tôi mong đợi nhiều hơn từ hai sinh vật
có lý trí – nếu không phải điều này
rằng bạn sẽ chăm sóc lẫn nhau
thì ít nhất cũng hiểu được: nỗi khổ
giữa bạn, giữa bộ tộc của bạn, sau đó
để tôi nhận ra bạn như nhận ra màu xanh lam
những dấu hiệu của hoa scilla hoang 
màu trắng của hoa violet rừng.

April

No one's despair is like my despair--

You have no place in this garden
thinking such things, producing
the tiresome outward signs; the man
pointedly weeding an entire forest,
the woman limping, refusing to change clothes
or wash her hair.

Do you suppose I care
if you speak to one another?
But I mean you to know
I expected better of two creatures
who were given minds: if not
that you would actually care for each other
at least that you would understand
grief is distributed
between you, among all your kind, for me
to know you, as deep blue
marks the wild scilla, white
the wood violet.



HOA TÍM

Bởi vì trong thế giới của chúng ta
có cái gì đó luôn bị giấu đi
nhỏ và trắng
nhỏ và bạn gọi đó là trong trắng
chúng tôi không đau buồn
như bạn đau buồn 
quý cô thân mến ạ
ở đây, giữa chúng tôi
dưới cây táo gai –
giọt sương lấp lánh trên lá của nó
chúng tôi có thể dạy bạn điều này
tại sao bạn đã đi đến đây
nhưng bạn khóc, bạn quỳ xuống
bạn siết chặt bàn tay
vị thần buồn tội nghiệp ơi
trong tất cả sự vĩ đại của nó
bạn không biết về bản chất của hồn kia
cái vốn là bất tử:
hoặc bạn không bao giờ có nó
hoặc bạn không để mất nó bao giờ. 

Violets

Because in our world
something is always hidden,
small and white,
small and what you call
pure, we do not grieve
as you grieve, dear
suffering master; you
are no more lost
than we are, under
the hawthorn tree, the hawthorn holding
balanced trays of pearls: what
has brought you among us
who would teach you, though
you kneel and weep,
clasping your great hands,
in all your greatness knowing
nothing of the soul’s nature,
which is never to die: poor sad god,
either you never have one
or you never lose one.



WITCHGRASS

Một cái gì đó
đến với thế giới không được chào đón
kêu gọi sự nổi loạn –

Nếu bạn ghét tôi đến vậy
đừng bận tâm đến một cái tên:
bạn có cần thiết không
thêm một lần nói xấu
bằng ngôn ngữ của bạn, thêm một lần
tìm cách để đổ lỗi
bộ tộc chúng tôi trong bất cứ thứ gì –

như đã biết cả hai chúng ta
nếu bạn tôn thờ
một vị thần, thì bạn cần đến
chỉ một kẻ thù –

Nhưng tôi không phải kẻ thù.
Chỉ có một mưu mẹo để bỏ qua
bạn đã thấy những gì đang xảy
ngay trên luống đất này
một mô hình nhỏ của sự thất bại.
Một trong những bông hoa bạn yêu quý
chết ở đây hầu như mỗi ngày
và bạn không thể nghỉ ngơi 
cho đến khi bạn tìm ra nguyên do, có nghĩa

bất cứ điều gì còn lại, bất cứ 
điều gì trở nên mạnh mẽ hơn
niềm đam mê cá nhân của bạn –

Điều đó không có nghĩa rằng
nó sẽ tồn tại mãi mãi trong thế giới thực.
Nhưng tại sao phải thừa nhận, khi bạn có thể tiếp tục
làm những gì bạn luôn làm
việc đổ lỗi và khóc than 
luôn luôn cả hai cùng lúc.

Tôi không cần bạn ngợi khen gì hết
để tồn tại. Tôi đã ở đây đầu tiên
trước khi bạn đến ở đây, trước
khi bạn đã đến đây làm một khu vườn.
Và tôi sẽ ở đây khi chỉ còn mặt trời và trăng
chỉ còn lại biển và cánh đồng bát ngát.

Và tôi sẽ là một cánh đồng.

Witchgrass

Something
comes into the world unwelcome
calling disorder, disorder–

If you hate me so much
don’t bother to give me
a name: do you need
one more slur
in your language, another
way to blame
one tribe for everything–

as we both know,
if you worship
one god, you only need
one enemy–

I’m not the enemy.
Only a ruse to ignore
what you see happening
right here in this bed,
a little paradigm
of failure. One of your precious flowers
dies here almost every day
and you can’t rest until
you attack the cause, meaning

whatever is left, whatever
happens to be sturdier
than your personal passion–

It was not meant
to last forever in the real world.
But why admit that, when you can go on
doing what you always do,
mourning and laying blame,
always the two together.

I don’t need your praise
to survive. I was here first,
before you were here, before
you ever planted a garden.
And I’ll be here when only the sun and moon
are left, and the sea, and the wide field.

I will constitute the field.



THANG GIA CỐP

Bị chôn vùi trong đất
bạn cũng sẽ không khao khát
tới thiên đàng? Tôi sống ở khu vườn
của một quý cô. Thứ lỗi cho tôi, cô gái
khao khát đã vượt qua sự kiềm chế.
Tôi không phải những gì bạn muốn nhìn.
Nhưng giống như đàn ông và phụ nữ
khát khao nhau, tôi cũng ước mong
kiến thức về thiên đường – và hãy xem
nỗi đau của bạn, một thân cây trần trụi
đang dần dần vươn ra bậu cửa sổ.
Cuối cùng thì sao? Bông hoa nhỏ màu xanh
giống như một ngôi sao. Không bao giờ
rời khỏi mặt đất! Chẳng lẽ đấy không phải
là nước mắt của bạn nói lên điều gì?
________

*Bài thơ lấy từ câu chuyện về giấc mơ của Gia-cốp trong Kinh Thánh. Xem: Cựu Ước; Sáng thế Ký 28: 10-17.

Jacob's Ladder

Trapped in the earth
wouldn’t you too want to go
to heaven? I live
in a lady garden. Forgive me, lady
looging has taken my grace. I am
not what you wanted. But
as men and women seem
to desire each other, I too desire
knowledge of paradise – and now
your grief a naked stem
reaching the porch window.
And at the end, what? A small blue flower
like a star. Never
to leave the world! Is this
not what your tears mean?


TRỜI VÀ ĐẤT

Nơi một thứ kết thúc, thứ khác sẽ bắt đầu.
Trên cao một dải màu xanh lam, bên dưới
một dải màu xanh, vàng, xanh lơ và hồng đậm.

John đứng ở chân trời: anh ấy muốn
cả hai cùng một lúc, anh ấy muốn
mọi thứ một lúc cùng.

Thái cực thật giản đơn.
Chỉ ở giữa là khó xử. 
Giữa mùa hè – mọi thứ đều có thể.

Nghĩa là: cuộc sống không kết thúc bao giờ.

Làm sao tôi có thể bỏ chồng
đứng trong vườn
thả hồn theo giấc mơ, khi nắm giữ
cái cào làm cỏ, một cách rất hoan hỉ
chuẩn bị công bố khám phá của mình

khi ngọn lửa của mặt trời mùa hè
thực sự bị ngưng lại
vì được hoàn toàn chứa bởi
cây phong đang cháy lên
ở bên mép của khu vườn.

Heaven and Earth

Where one finishes, the other begins.
On top, a band of blue; underneath,
a band of green and gold, green and deep rose.

John stands at the horizon: he wants
both at once, he wants
everything at once.

The extremes are easy. Only
the middle is a puzzle. Midsummer-
everything is possible.

Meaning: never again will life end.

How can I leave my husband
standing in the garden
dreaming this sort of thing, holding
his rake, triumphantly
preparing to announce this discovery

as the fire of the summer sun
truly does stall
being entirely contained by
the burning maples
at the garden's border.
 
 

KINH CHIỀU
 
Tôi từng tin Ngài, và tôi trồng cây vả
Ở đây, ở Vermont, nơi chẳng có mùa hè
Và đấy quả thực là một bài kiểm tra
Nếu cây sống, nghĩa là Ngài tồn tại.
 
Theo logic này thì Ngài không tồn tại
hoặc chỉ ở vùng khí hậu ấm mà thôi
ở Sicily, ở Mexico hoặc California
nơi có những cây không sao hình dung nổi
như cây mơ, cây đào mỏng manh. Và có lẽ
chỉ có thể thấy gương mặt của Ngài ở Sicily
chứ không thấy viền quần áo của Ngài ở đây
tôi nghiêm khắc bắt bản thân mình chia sẻ
với John và Noah vụ thu hoạch cà chua.
 
Nếu có công lý ở thế giới bên kia
những người như tôi, bị thiên nhiên ép buộc
phải kiềm chế, nhẫn nhịn thì nên nhận được
phần lớn nhất từ mọi thứ ở đời
đối tượng của lòng tham – ca tụng Ngài
tôi ca tụng Ngài sốt sắng hơn tất cả
tôi kìm hãm mong muốn này lâu quá
nên chẳng còn ai xứng đáng hơn tôi
ngồi bên tay phải của Ngài – nếu như tồn tại –
nếm trái vả mau hư và bất tử 
mà không chịu đi xa.  
 
Vespers (Once I believed in you...)
 
Once I believed in you; I planted a fig tree.
Here, in Vermont, country
of no summer. It was a test: if the tree lived,
it would mean you existed.
 
By this logic, you do not exist. Or you exist
exclusively in warmer climates,
in fervent Sicily and Mexico and California,
where are grown the unimaginable
apricot and fragile peach. Perhaps
they see your face in Sicily; here we barely see
the hem of your garment. I have to discipline myself
to share with John and Noah the tomato crop.
 
If there is justice in some other world, those
like myself, whom nature forces
into lives of abstinence, should get
the lion's share of all things, all
objects of hunger, greed being
praise of you. And no one praises
more intensely than I, with more
painfully checked desire, or more deserves
to sit at your right hand, if it exists, partaking
of the perishable, the immortal fig,
which does not travel.


CUỐI HÈ

Sau khi mọi thứ được tiết lộ cho tôi
sự trống rỗng đã xảy đến với tôi.

Có một giới hạn cho niềm vui
mà tôi có thể trải nghiệm trong hình thức –

Tôi không giống bạn trong điều này
tôi không có sự giải phóng trong một cơ thể khác

tôi không cần thiết 
nơi trú ẩn bên ngoài bản thân tôi –

những sáng tạo đi ra
từ cảm hứng nghèo nàn của tôi
hóa ra vô cùng hạn chế
cuối cùng thành ra trong đó
có quá ít những thứ giống tôi
để mà vui.

Và rất kiên quyết –
bạn muốn được trả công
cho sự biến mất của mình
tất cả được trả ở một số nơi trên trái đất
một số đồ lưu niệm, như đã từng
và tặng thưởng cho công việc
người ghi chép được trả tiền
bằng bạc, người chăn cừu bằng lúa mạch

mặc dù không phải là trái đất
tồn tại lâu dài, không
những mảnh vật chất nhỏ nhặt –

Và nếu như bạn mở mắt
bạn sẽ thấy tôi, bạn sẽ thấy hết
sự trống rỗng của thiên đường
phản chiếu trên trái đất, những cánh đồng
lại bị bỏ trống, vô hồn, phủ đầy tuyết –

sau đó là ánh sáng trắng tinh
không còn được ngụy trang dưới dạng vật chất.

End of Summer

After all things occurred to me,
the void occurred to me.

There is a limit
to the pleasure I had in form -

I am not like you in this,
I have no release in another body,

I have no need
of shelter outside myself -

My poor inspired
creation, you are
distractions, finally,
mere curtailment; you are
too little like me in the end
to please me.

And so adamant -
you want to be paid off
for your disappearance,
all paid in some part of the earth,
some souvenir, as you were once
rewarded for labor,
the scribe being paid
in silver, the shepherd in barley

although it is not earth
that is lasting, not
these small chips of matter -

If you would open your eyes
you would see me, you would see
the emptiness of heaven
mirrored on earth, the fields
vacant again, lifeless, covered with snow –

then white light
no longer disguised as matter.



CHẠNG VẠNG

Làm sao bạn có thể nói
trái đất mang niềm vui đến cho ta? 
Mọi thứ ra đời đặt cho ta gánh nặng
Ta không thể thành công với tất cả mọi nhà. 

Và bạn muốn ra lệnh cho ta
bạn mong muốn nói với ta là
ai trong số bạn có giá trị nhất
ai là người giống với ta như thật.
Và bạn trình bày một ví dụ như
cuộc sống này vô nhiễm và vô tư
mà bạn cố sức để giành cho được –

Làm sao bạn có thể hiểu được ta
khi chính mình bạn không hiểu nổi?
Trí nhớ của bạn là không thể đủ
không hoàn mỹ đến mức có thể nhìn
quay ngược trở về quá khứ xa xăm –

Đừng bao giờ quên các bạn là con của ta.
Bạn không đau khổ vì cùng nhau chung sống
nhưng bởi vì bạn đã được sinh ra
bởi vì bạn yêu cuộc sống
tách biệt với ta.

Early Darkness

How can you say
earth should give me joy?  Each thing
born is my burden; I cannot succeed
with all of you.
 
And you would like to dictate to me,
you would like to tell me
who among you is most valuable,
who most resembles me.
And you hold up as an example
the pure life, the detachment
you struggle to acheive—
 
How can you understand me
when you cannot understand yourselves?
Your memory is not
powerful enough, it will not
reach back far enough—
 
Never forget you are my children.
You are not suffering because you touched each other
but because you were born,
because you required life
separate from me. 



HOA HỒNG TRẮNG

Đây là trái đất? Thế thì
tôi không thuộc về đây.

Bạn là ai trong cửa sổ sáng đèn
bị che khuất bởi những chiếc lá thấp thoáng
của cây kim ngân đen?
Bạn có thể sống sót ở nơi tôi không thể sống
sau mùa hè đầu tiên?

Những cành cây mảnh mai trong đêm
khuấy động và sột soạt bên cửa sổ.
Hãy giải thích cuộc sống của tôi mà không cần ra dấu

mặc dù tôi gọi bạn trong đêm:
tôi không giống như bạn, tôi chỉ có
cơ thể của tôi là giọng nói, tôi không thể
như bạn biến mất trong lặng im –

Và vào buổi sáng lạnh lùng
trên bề mặt tối tăm của đất
tiếng vọng giọng nói của tôi trôi dạt
độ trắng dần dần bị hấp thụ vào bóng đêm

như thể bạn đang làm một dấu hiệu sau cùng
thuyết phục tôi rằng bạn không thể ở nơi này tồn tại

hoặc để tôi thấy bạn không phải là ánh sáng mà tôi đã gọi
nhưng mà bóng đêm ở phía sau lưng. 

The White Rose

This is earth? Then
I don’t belong here.

Who are you in the lighted window
shadowed now by the flickering leaves
of the wayfare tree?
Can you survive where I won’t last
beyond the first summer?

All night the slender branches of the tree
Shift and rustle at the bright window.
Explain my life to me, you who make no sign,

though I call out to you an the night:
I am not like you, I have only
my body for a voice; I can’t
disappear into silence –

And in the cold morning
over the dark surface of the earth
echoes of my voice drift,
whiteness steadily absorbed into darkness

as though you were making a sign after all
to convince me you to couldn’t survive here

or to show me you are not the light I called to
but the blackless behind it.



PRESQUE ISLE

Trong mỗi cuộc đời có một khoảnh khắc hoặc hai. 
Có một căn phòng ở đâu đó, bên biển hay trên núi.

Trên bàn một đĩa mơ. Hạt trong gạt tàn trắng xóa.

Như tất cả hình ảnh, đây là điều kiện của một hiệp ước:
ánh mặt trời run rẩy trên đôi má của em
ngón tay tôi ấn vào đôi môi của em. 
Những bức tường trắng xanh, sơn bong ra một chút.

Căn phòng đó vẫn phải tồn tại, trên tầng bốn
có ban công nhỏ nhìn ra đại dương.
Căn phòng vuông màu trắng, tấm vải trên mép giường.
Nó không trở về hư không, mà đi vào hiện thực.
Qua cửa sổ đang mở có không khí biển và mùi iốt.

Sáng sớm người đàn ông gọi cậu bé từ dưới nước trở về.
Cậu bé nhỏ đó – cậu ấy sẽ hai mươi tuổi bây giờ. 

Mái tóc ẩm ướt màu hạt dẻ quanh gương mặt của em
Rèm vải muslin ánh bạc. Chiếc bình nặng với hoa mẫu đơn trắng.

Presque Isle

In every life, there's a moment or two.
In every life, a room somewhere, by the sea or in the mountains.

On the table, a dish of apricots. Pits in a white ashtray.

Like all images, these were the conditions of a pact:
on your cheek, tremor of sunlight,
my finger pressing your lips.
The walls blue-white; paint from the low bureau flaking a little.

That room must still exist, on the fourth floor,
with a small balcony overlooking the ocean.
A square white room, the top sheet pulled back over the edge of the bed.
It hasn't dissolved back into nothing, into reality.
Through the open window, sea air, smelling of iodine.

Early morning: a man calling a small boy back from the water.
That small boy — he would be twenty now.  

Around your face, rushes of damp hair, streaked with auburn.
Muslin, flicker of silver. Heavy jar filled with white peonies.


HOÀNG HÔN

Niềm hạnh phúc lớn lao của tôi
là khi tôi nghe giọng nói của bạn
gọi cho tôi ngay cả trong tuyệt vọng
tôi thấy buồn rằng không thể trả lời
cho bạn bằng ngôn ngữ mà bạn hiểu. 

Bạn không tin vào lời bạn nói.
Vì vậy, bạn hướng về
những dấu hiệu, mặc dù
sự chính xác bạn không hiểu thấu.

Và giọng nói của bạn luôn đến với tôi.
Và tôi thường xuyên trả lời
cơn giận của tôi sẽ qua chóng vánh
như mùa đông đi qua. Câu trả lời
của tôi trở nên rõ ràng với bạn
trong làn gió của buổi tối mùa hè
và trong những lời nói sẽ thành ra
câu trả lời của riêng bạn.

Sunset

My great happiness
is the sound your voice makes
calling to me even in despair; my sorrow
that I cannot answer you
in speech you accept as mine.

You have no faith in your own language.
So you invest
authority in signs
you cannot read with any accuracy.

And yet your voice reaches me always.
And I answer constantly,
my anger passing
as winter passes. My tenderness
should be apparent to you
in the breeze of summer evening
and in the words that become
your own response.

 

HOA HUỆ BẠC 

Đêm lại trở nên mát mẻ, như những đêm
Của đầu mùa xuân và lại trở nên yên tĩnh.
Liệu lời tôi có làm phiền bạn? Chỉ ta với mình
Chúng ta không có lý do gì để mà im lặng.

Bạn thấy không, trăng tròn mọc trên khu vườn.
Trăng tròn tiếp theo tôi không còn thấy nữa.

Giữa mùa xuân, trăng mọc lên có nghĩa rằng
Thời gian là vô tận vô cùng. Hoa xuyên tuyết
Mở ra rồi đóng lại, hạt của những cây phong
Rơi xuống tụ lại thành từng cục bông xốp. 
Trắng trên màu trắng, trăng trên rừng dương.
Chiếu qua chỗ thân cây phân cách
Những chiếc lá thủy tiên non dưới ánh trăng
Có màu xanh mềm – bàng bạc. 

Giờ chúng ta đã cùng nhau đi đến cuối cùng
Để mà sợ nó. Tôi không tin chắc rằng tôi biết
Kết thúc là gì. Còn bạn là người đã từng thân mật
Với đàn ông –

Sau những tiếng thét đầu tiên thì khoái lạc
Giống như nỗi sợ, có trở nên im lặng hay không?

The Silver Lily

The nights have grown cool again, like the nights
Of early spring, and quiet again. Will
Speech disturb you? We're
Alone now; we have no reason for silence.

Can you see, over the garden-the full moon rises.
I won't see the next full moon.

In spring, when the moon rose, it meant
Time was endless. Snowdrops
Opened and closed, the clustered
Seeds of the maples fell in pale drifts.
White over white, the moon rose over the birch tree.
And in the crook, where the tree divides,
Leaves of the first daffodils, in moonlight
Soft greenish-silver.

We have come too far together toward the end now
To fear the end. These nights, I am no longer even certain
I know what the end means. And you, who've been
With a man--

After the first cries,
Doesn't joy, like fear, make no sound?



QUYẾT ĐỊNH CỦA ODYSSEUS

Con người vĩ đại quay lưng lại với hòn đảo.
Giờ chàng sẽ không chết ở đây, chẳng còn nghe
tiếng đàn luýt của thiên đường giữa những bụi ô liu
bên hồ nước trong veo dưới tán cây tùng cây bách.
Thời gian đã bắt đầu, trong đó chàng lại nghe
những câu chuyện của biển khơi dồn dập
buổi bình minh khi thủy triều cao nhất. 
Điều gì đã mang chúng tôi đến đây
sẽ dẫn chúng tôi đi và tàu của chúng tôi
tròng trành lắc lư trong làn nước biếc.
Và câu thần chú lúc này kết thúc.
Xin hãy trả lại cho chàng cuộc sống biển ơi
bởi vì biển luôn tiến về phía trước.

Odysseus' Decision

The great man turns his back on the island.
Now he will not die in paradise nor hear again
the lutes of paradise among the olive trees,
by the clear pools under the cypresses. Time
begins now, in which he hears again
that pulse which is the narrative
sea, at dawn when its pull is strongest.
What has brought us here
will lead us away; our ship
sways in the tinted harbor water.
Now the spell is ended.
Give him back his life,
sea that can only move forward.



SỨC MẠNH CỦA CIRCE

Em chưa bao giờ biến ai thành lợn.
Có những người là lợn, và em
Chỉ làm cho họ nhìn giống lợn.

Em chán ngấy với thế giới của anh
Vẻ ngoài ngụy trang thực tế bên trong. 
Người của anh không phải là người xấu
Nhưng đời sống không có kỷ cương gì cả
Điều này làm cho họ giống lợn thôi anh 

Với sự chăm sóc của em
Và của những người bạn gái
Mà họ trở nên ngọt ngào hơn. 

Em đảo câu chú, cho anh thấy lòng tốt của mình
Như sức mạnh của em. Và em nhận thấy

Chúng ta có thể hạnh phúc ở nơi này
Như đàn ông và phụ nữ
Khi nhu cầu chỉ giản dị. Nhưng rồi

Em đã thấy trước chuyến đi của anh ra khơi
Cùng đồng đội với sự giúp đỡ của em dũng cảm
Giữa biển thét gào, sóng lớn. Anh nghĩ gì chăng

Một vài giọt nước mắt sẽ làm cho em buồn?
Anh ơi, mọi phù thủy đều thực dụng trong lòng
Ai không hiểu bản chất không nhìn ra giới hạn
Chẳng qua em chỉ từng khát khao, em từng muốn

Giữ anh bên mình như một tù nhân.

Circe’s Power

I never turned anyone into a pig.
Some people are pigs; I make them
Look like pigs.

I'm sick of your world
That lets the outside disguise the inside. Your men weren't bad men;
Undisciplined life
Did that to them. As pigs,

Under the care of
Me and my ladies, they
Sweetened right up.

Then I reversed the spell, showing you my goodness
As well as my power. I saw

We could be happy here,
As men and women are
When their needs are simple. In the same breath,

I foresaw your departure,
Your men with my help braving
The crying and pounding sea. You think

A few tears upset me? My friend,
Every sorceress is
A pragmatist at heart; nobody sees essence who can't
Face limitation. If I wanted only to hold you

I could hold you prisoner.



NỖI ĐAU CỦA CIRCE

Cuối cùng ta cũng vội 
Đến gặp người vợ của chàng
Như vị thần, trong ngôi nhà của nàng
Ở Ithaca, bằng giọng nói
Không có cơ thể, và cô nàng
Ngừng dệt vải, bắt đầu quay đầu lại
Đầu tiên sang phải rồi sau sang trái
Mặc dù rất là vô vọng, tất nhiên –
Để mà nghe cho rõ những âm thanh
Từ một nguồn khách quan nào dẫn tới
Ta nghi ngờ cô sẽ quay về bên khung cửi
Với những gì mà cô đã biết bây giờ.
Khi nào chàng gặp lại thì hãy nới với cô
Rằng các vị thần đều giã từ như vậy:
Nếu ta thường xuyên ở trong đầu cô ấy
Thì ta mãi mãi ở trong cuộc sống của chàng.

Circe's Grief

In the end, I made myself
Known to your wife as
A god would, in her own house, in
Ithaca, a voice
Without a body: she
Paused in her weaving, her head turning
First to the right, then left
Though it was hopeless of course
To trace that sound to any
Objective source: I doubt
She will return to her loom
With what she knows now. When
You see her again, tell her
This is how a god says goodbye:
If I am in her head forever
I am in your life forever.



TÌNH YÊU ĐÃ MẤT

Chị gái tôi đã sống cả đời trên trái đất.
Chị được sinh ra và rồi đã chết.
Ở giữa những thứ này
Không một lời, không một ánh mắt hoạt bát.

Chị đã làm những gì như bao đứa bé
Chị ấy khóc. Nhưng chị chẳng muốn ăn.
Tuy nhiên mẹ tôi đã cố gắng dỗ dành
Để thay đổi số phận đầu tiên, sau đó là lịch sử.

Có điều gì đó đổi thay khi chị tôi đã chết
trái tim của mẹ tôi đã trở nên
rất cứng rắn và rất lạnh lùng
như một mặt dây chuyền nhỏ bằng sắt.

Sau đó tôi ngỡ như là cơ thể của chị gái tôi
là thỏi nam châm. Tôi cảm thấy rằng nó khắc
trái tim của mẹ tôi vào đất
để nó lớn lên ở nơi này.

Lost Love

My sister spent a whole life in the earth.
She was born, she died.
In between,
not one alert look, not one sentence.

She did what babies do,
she cried. But she didn't want to be fed.
Still, my mother held her, trying to change
first fate, then history.

Something did change: when my sister died,
my mother's heart became
very cold, very rigid,
like a tiny pendant of iron.

Then it seemed to me my sister's body
was a magnet. I could feel it draw
my mother's heart into the earth,
so it would grow.



LỜI THÚ NHẬN

Nói rằng tôi không sợ hãi gì –
Thì quả không đúng với sự thật.
Tôi sợ bệnh tình, sợ người ta làm nhục
Và giống mọi người, tôi có những ước mơ.
Nhưng tôi đã học cách che giấu chúng đi
Để bản thân mình tự bảo vệ
Từ việc thực hiện chúng: mọi hân hoan
Chỉ làm cho số kiếp thêm giận dữ. 
Chúng là chị em, những kẻ dã man
Và cuối cùng là chúng không hề có
Cảm xúc nào ngoài ghen ghét thù hằn.

Confession

To say I'm without fear--
It wouldn't be true.
I'm afraid of sickness, humiliation.
Like anyone, I have my dreams.
But I've learned to hide them,
To protect myself
From fulfillment: all happiness
Attracts the Fates' anger.
They are sisters, savages--
In the end they have
No emotion but envy.
 
 
CÂY DU
 
Cả ngày tôi cố gắng phân biệt
nhu cầu của tôi là do khao khát.
Và trong bóng tối, tôi cảm thấy rằng
thật cay đắng biết bao và thật buồn
cho chúng tôi – những thợ xây, thợ mộc.
tôi nhìn vào những cây du chằm chặp
và tôi nhận ra cả một quá trình
cây đứng trong lặng yên và cây dằn vặt
thì khi đó tôi đã hiểu ra rằng
cây không tạo ra hình thù nào khác
ngoài những dạng hình xoăn.
 
Elms
 
All day I tried to distinguish
need from desire. Now, in the dark,
I feel only bitter sadness for us,
the builders, the planers of wood,
because I have been looking
steadily at these elms
and seen the process that creates
the writhing, stationary tree
is torment, and have understood
it will make no forms but twisted forms.
 
 

THƠ TÌNH
 
Luôn có một cái gì đó được tạo ra từ nỗi đau.
Thí dụ như việc mẹ của anh đan áo.
Mẹ thường đan những chiếc khăn màu đỏ.
Cho dịp Giáng sinh, khăn giữ ấm cho anh
một khi mẹ anh chưa đi lấy chồng lần nữa
cứ mỗi lần mẹ của anh lại đem theo anh
ngần ấy năm mẹ giữ trong con tim góa bụa
như thể người chết còn quay lại trần gian.
Không có gì ngạc nhiên khi anh vẫn thế
anh sợ máu, và người phụ nữ của anh
là bức tường gạch sau những bức tường.
 
Love Poem
 
There is always something to be made of pain.
Your mother knits.
She turns out scarves in every shade of red.
They were for Christmas, and they kept you warm
while she married over and over, taking you
along. How could it work,
when all those years she stored her widowed heart
as though the dead come back.
No wonder you are the way you are,
afraid of blood, your women
like one brick wall after another.
 
 

EROS
 
Tôi kéo ghế ra cửa sổ khách sạn để nhìn mưa.
 
Tôi như người trong mộng hay bị hôn mê –
đang ở trong tình yêu, dù vậy
tôi chẳng muốn điều gì.
 
Không muốn gặp lại anh hay đụng chạm.
Tôi chỉ muốn điều này:
căn phòng, mái tóc, tiếng mưa rơi
giờ lại giờ trong đêm xuân nồng ấm.
 
Tôi thỏa mãn. Tôi không cần gì nữa.
Con tim thắt lại, cần ít để lấp đầy.
Tôi nhìn mưa rơi trên thành phố tối –
 
Anh chẳng còn liên quan. Những thứ tôi làm
trong cuộc đời lăng xăng và tôi hết nợ
nhưng tôi đi như người ngủ đi rong.
 
Và anh sẽ không còn trong tôi nữa
Một đôi ngày ở thành phố xa xăm.
Một cái chạm tay, một câu chuyện suông
Và sau đó tôi tháo ra nhẫn cưới.
 
Đó là điều tôi muốn: được khỏa thân.
 
Eros
 
I had drawn my chair to the hotel window, to watch the rain.
 
I was in a kind of dream, or trance –
in love, and yet
I wanted nothing.
 
It seemed unnecessary to touch you, to see you again.
I wanted only this:
the room, the hair, the sound of the rain falling,
hour after hour, in the warmth of the spring night.
 
I needed nothing more; I was utterly sated.
My heart had become very small; it took very little to fill it.
I watched the rain falling in heavy sheets over the darkened city –
 
You were not concerned. I did the things
one does in daylight, I acquitted myself,
but I moved like a sleepwalker.
 
It was enough and it no longer involved you.
A few days in a strange city.
A conversation, the touch of a hand.
And afterward, I took off my wedding ring.
 
That was what I wanted: to be naked.