Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

W. Szymborska - 1996


Wislawa Szymborska (tên đầy đủ: Maria Wisława Anna Szymborska, 2 tháng 7 năm 1923 – 1 tháng 2 năm 2012) – nữ nhà thơ Ba Lan đoạt giải Nobel Văn học năm 1996 “cho thơ với độ chính xác tối đa mô tả các hiện tượng lịch sử và sinh học trong bối cảnh thực tế của con người”. Nét đặc trưng trong sáng tạo của Szymborska là những vấn đề về triết học và đạo đức, thi pháp xưng tội và tính phản xạ, mối quan hệ giữa sự vĩnh cửu và tạm thời, tồn tại và không tồn tại, sự bố trí hợp lý của từng bài thơ. Danh tiếng của bà dựa trên một khối lượng công việc tương đối nhỏ, dưới 350 bài thơ. Khi được hỏi tại sao bà đã xuất bản ít thế, bà trả lời: “Tôi có một thùng rác ở trong nhà”.

Tiểu sử: 
Wislawa Szymborska sinh ngày 2-7-1923 tại Bnin (nay là Kurnik, gần Poznan). Năm 1929 gia đình chuyển đến Krakow. Học xong bậc tiểu học năm 1935 và học xong trung học ở trường bí mật năm 1941, khi Ba Lan còn bị Đức chiếm đóng. Một thời gian ngắn Szymborska làm công nhân đường sắt. Từ năm 1945-1947 học văn học Ba Lan và xã hội học tại Đại học Jagielloński; năm 1945 khởi đầu sự nghiệp sáng tác vào với bài thơ đăng báo Tôi tìm lời, năm 1952 in tập thơ đầu tiên Vì lẽ này chúng ta đang sống và được kết nạp vào Hội Nhà văn Ba Lan. 

Phong cách thơ W. Szymborska thời kỳ này mang tính hiện thực truyền thống, viết về chiến tranh, quân đội, Tổ quốc. Năm 1957, Szymborska xuất bản tập thơ thứ ba Lời kêu gọi đối với người tuyết được dư luận quan tâm (trong nguyên tác sử dụng từ “Yeti”, thổ ngữ Himalai có nghĩa là “người tuyết”, ám chỉ thủ lĩnh của “xứ tuyết” láng giềng). Thời kỳ này bà thường viết lối thơ tự do, đặc trưng cho các nhà thơ Tây Âu đương đại, nhưng thơ Szymborska không trừu tượng mà cụ thể và dễ hiểu.

Trong những năm 1953-1981, bà là biên tập viên thơ và là người viết xã luận trên tuần báo Đời sống văn học, các tiểu luận của bà về sau được tập hợp xuất bản dưới dạng sách tái bản nhiều lần. Từ 1952-1996, bà đã xuất bản 16 tập thơ. Ngoài ra, bà còn dịch thơ Pháp, Nga ra tiếng Ba Lan.

Wislawa Szymborska đã được nhiều giải thưởng văn học cao quý. Năm 1954 bà được tặng giải thưởng của thành phố Krakow; năm 1963 đoạt giải Văn học của Bộ trưởng Văn hóa Nghệ thuật Ba Lan; giải thưởng Goethe của Đức (1991) và giải thưởng Herder của áo (1995). Bà được trao bằng Tiến sĩ Văn chương Đại học Poznan (1995) và giải thưởng Hội Văn bút Ba Lan (1996).  

Wislawa Szymborska từ giã cõi đời trong một giấc ngủ ở nhà mình, có bạn bè và người thân bên cạnh. Thơ của bà được dịch ra gần 40 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt. 

Tác phẩm:
* Vĩ lẽ này chúng ta đang sống (Dlatego zyjemy, 1952), thơ
*Những câu hỏi cho mình (Pytania zadawane sobie, 1954), thơ
*Lời kêu gọi đối với người tuyết (Wolanie do yeti, 1957), thơ
* Muối (Sols, 1962), thơ
*Sili (1965), thơ
*Tuyển thơ (Poezje wybrane, 1967), thơ
*Một trăm trò hề (Sto pociech, 1967), thơ 
* Thơ (Poezje, 1970), thơ
*Trường hợp bất kì (Wszelki wypadek, 1972), thơ
* Tarsius và những bài thơ khác (Tarsjusz i inne wiersze, 1976), thơ
*Số lớn (Wielka liczba, 1976), thơ
*Những người trên cầu (Ludzie na moscie, 1985), thơ
*Buổi chiều của tác giả (Wieczúr autorski, 1992), thơ
*Kết thúc và mở đầu (Koniec i poczatek, 1993), thơ

Một số bài thơ


NHÀ GA
(Dworzec)

Sự không có mặt của em đến thành phố N
Đã theo đúng thời gian biểu.

Em đã báo trước với anh
Bằng bức điện mà rồi em không gửi.

Và anh đã không kịp tới
Theo thời gian hẹn hò.

Con tàu đi vào đường thứ ba
Có rất nhiều người ra đón.

Trong đám đông, em hướng về phía cổng
Không có người đưa đón của mình.

Một vài người phụ nữ vội vàng
Nhìn theo em
Bước đi vội vã.

Có ai đấy chạy đến bên một người phụ nữ
Người này em không quen
Nhưng người phụ nữ nhận ra người đàn ông
Chỉ trong khoảnh khắc.

Họ hôn nhau thắm thiết
Không bằng nụ hôn của chúng mình
Và chiếc va li bị lấy cắp
Không phải là chiếc va li của em.

Nhà ga thành phố N
Đã trả thi rất giỏi
Về sự tồn tại khách quan.

Cái chung vẫn còn nguyên vẹn
Cái riêng đã hoàn thành
Theo như số trời định sẵn.

Và ngay cả lần hò hẹn
Cũng đã định trước rồi.

Nhưng, than ôi
Sau khi chúng mình có mặt.

Và thiên đường đã mất
Giống như chân lý cuộc đời.

ở đâu, chứ không phải ở đây
ở đâu, chứ không phải ở đây
Vang lên những lời thánh thót.




TRƯỜNG HỢP BẤT KỲ
(Wszelki wypadek)

Đã xảy ra điều có thể
Đã xảy ra điều phải xảy ra.
Sớm hơn. Muộn màng hơn thế.
Gần hơn. Xa hơn.
Đã xảy ra – nhưng không phải với anh.

Còn nguyên vẹn, bởi anh người đầu tiên.
Còn nguyên vẹn, bởi anh người sau cuối.
Bởi do mọi người. Bởi anh tự mình
Bởi vì bên phải. Bởi vì bên trái
Bởi vì bóng rơi. Bởi vì mưa xối
Và bởi vì nắng đẹp, trời xanh.

Thật may mắn, ở đó là rừng
Thật may mắn, không một thân cây gỗ
Thật may mắn, khe núi, đường ray, sự cách trở
Milimét, phút giây và chỗ quay vòng
Thật may mắn, cọng rơm bơi trên nước.

Nhưng kết cục, thật khó mà nói được
Tuy thế, dù sao, giá mà tay, chân
Kẽ tóc chân tơ, theo mỗi bước chân
Tránh khỏi trùng phùng cơ hội.

Bởi thế, anh tồn tại? 
Mang ơn mỗi phút giây
Lưới có một mắt. Còn anh ở trong mắt ấy
Em không lặng im và chẳng ngạc nhiên lắm vậy
Xin anh hãy nghe em
Để vì em
Con tim anh rộn ràng hãy đập.


BỐN GIỜ SÁNG

 (Czwarta nad ranem)

Thời khắc từ đêm sang ngày
Thời khắc trở mình trằn trọc
Thời khắc của tuổi ba mươi.

Thời khắc, khi đất đai chối bỏ con người
Thời khắc bật lên trong giờ gà gáy
Thời khắc, khi ngôi sao tắt ngấm giữa trời
Thời khắc, thế sau ta có những gì còn lại?

Thời khắc lặng im
Thời khắc trống vắng
Tận cùng đáy của ngày đêm.

Lúc bốn giờ sáng chẳng có ai bình yên
Nếu bầy kiến lúc bốn giờ thanh thản
Ta mừng cho kiến. Và năm giờ sẽ đến
Nếu như ta sống tiếp cuộc đời mình.



TÌNH YÊU TỪ CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN
 (Miłość od piewsego wejrzenia)

Cả hai người vẫn tin rằng
tình cảm của họ bất ngờ, đột ngột
lòng tin này rất đẹp
nhưng sự hoài nghi còn tuyệt vời hơn.

Họ cho rằng, nếu trước đó chưa từng quen
thì đã không có gì xảy ra với họ.
Thế sẽ nói gì những bậc thang, những hành lang, đường phố
những nơi mà họ gặp nhau không chỉ một lần?

Tôi muốn hỏi họ xem
liệu họ còn có nhớ
có thể, trong những vòng xoay cánh cửa
họ từng đối mặt ra sao?
Những lời “xin lỗi” khi va vào người nhau
giọng “anh nhầm rồi” trong ống nghe điện thoại
nhưng tôi biết câu trả lời như vậy.
Không, họ chẳng nhớ gì.

Mà họ sẽ ngạc nhiên nhiều hơn kia
khi biết rằng đã từ lâu lắm
với họ đang đùa giỡn
một trường hợp ngẫu nhiên.

Trường hợp này còn chưa sẵn sàng
trở thành số phận
xích họ lại gần, làm cho xa vắng
chạy qua đường, né sang bên
và tiếng cười khúc khích kìm nén.

Đã từng có những dấu hiệu
không quan trọng là đã chẳng hiểu ra
có thể từ ba năm trước kia
hay là, thứ ba tuần trước
khi từ vai này sang vai khác
một chiếc lá vương?
Một thứ gì người này làm rơi người khác nhặt lên
ai biết được, có thể là trái bóng
trong bụi cây từ thuở thiếu niên.

Đã có những chiếc chuông con và những tay cầm
mà ở đó rất lâu trước lần gặp gỡ
những dấu tay đã từng chồng lên.
Hai chiếc va li trong kho để kề bên.
Có thể, trong đêm có một giấc mơ giống hệt
khi thức giấc thì đã vội vàng quên.

Bởi vì mỗi sự mở đầu
chỉ là một hồi kế tiếp
và cuốn sách
của cuộc đời luôn mở giữa chừng trang.


AI ĐÓ YÊU THƠ

(Niektory lubią poezję)

Ai đó –
có nghĩa: không mỗi người.
Không phải nhiều, mà là thiểu số.
Ngoại trừ những em trò nhỏ
và các nhà thi sĩ
trong nghìn người, may ra chỉ có hai.

Yêu 
như người đời yêu khoai tây với nấm
những lời khen, những sắc thái của hoàng hôn
với chiếc khăn nhỏ của mình
đứng trên chỗ của mình
trước khi đi ngủ dẫn ra đường con chó lớn.

Thơ 
thơ ca là gì thế?
Bao nhiêu câu trả lời
tôi từng nghe được về điều này.
Cũng may: chúng đều lời nhẹ
bởi nếu không, sao tôi viết những dòng này.




BA LỜI KỲ LẠ
(Trzy słowa nadziwniejsze)

Tôi nhắc lại rằng thời gian không ở
Thì lời đầu tiên đã kịp đi qua.

Tôi thì thầm trời yên, lặng gió
Thì trở nên không lặng yên cho.

Tôi cẩn thận nói lời không cái gì
Thì có một cái gì bao la hiện rõ…



TÌNH HẠNH PHÚC

(Miłość szczęśliwa)

Tình hạnh phúc. Có bình thường không vậy
Chẳng lẽ nghiêm túc, hay có ích điều này
Thế giới nhận được gì ở hai người
Khi mà họ không nhìn ra thế giới?

Họ tôn vinh nhau không phải vì công lao

Từ cả triệu người ngẫu nhiên được chọn
Nhưng họ tin rằng đấy là phần thưởng
Vì điều gì? Có ai biết được đâu. 

Một tia sáng chẳng biết tự nơi nào

Sao không chiếu vào ai mà chiếu vào chính họ?
Đấy là điều bất công chăng? Hẳn thế
Không để ý gì đến dư luận xã hội chăng?
Vi phạm đạo đức, chối bỏ những điều răn?
Có vi phạm và có phần chối bỏ. 

Quý vị hãy nhìn hai người hạnh phúc

Giá mà họ giả vờ, ngụy trang một chút
Giả vờ rầu rĩ để an ủi bạn bè
Tiếng của họ cười – nghe mà thấy bực
Lời họ nói với nhau – chẳng thể nào nghe.
Và những cử chỉ, lễ nghi của họ
Và những lời họ cam kết với nhau
Giống như một mưu đồ sau lưng nhân loại.

Thật khó đoán điều gì sẽ xảy ra

Nếu thiên hạ cũng noi theo gương họ
Thì còn gì cho tôn giáo, thơ ca
Còn gì để quên, còn gì để nhớ
Ai muốn giữ mình trong cái vòng kia?

Tình hạnh phúc. Liệu có cần thiết chăng?

Sự tế nhị và trí khôn buộc người ta im lặng
Như khi nói về những ông to tham nhũng
Trẻ nhỏ sinh ra đời có cần đến nó đâu
Nó đâu làm cho người đông đúc khắp địa cầu
Tình như thế là tình rất hiếm gặp.

Hãy để cho những ai chưa biết đến tình hạnh phúc

Tin tưởng rằng tình như thế không hề có trên đời
Và cảm thấy nhẹ nhàng hơn để sống và để chết. 



CÁM ƠN

(Podziękowanie)

Tôi mang ơn rất nhiều
với những người mà tôi không yêu.

Vì sự nhẹ nhàng mà tôi đón nhận

vốn chỉ dành cho người thân thương lắm. 

Và tôi vui vì tôi chẳng trở thành

con sói giữa bầy cừu mà họ dắt chăn.

Bên họ tôi tự do

và cảm thấy bình an bên họ
mà tình yêu không thể trao điều đó
và tình yêu cũng không thể lấy về. 

Tôi không chờ họ, khi chạy ra từ cửa sổ

tôi kiên nhẫn như đồng hồ mặt trời
tôi hiểu điều tình yêu không thể hiểu
và tôi tha thứ cho tất cả những điều
mà tình yêu không bao giờ tha thứ. 

Từ khi gặp gỡ đến lúc nhận thư

thời gian đợi chờ không dài lắm
chỉ vài ngày, hoặc chưa đầy tháng. 

Những chuyến đi với họ luôn mỹ mãn

những buổi nghe hòa nhạc, thăm bảo tàng
những giáo đường chúng tôi đã ghé thăm
và sau đó còn bao nhiêu danh thắng. 

Rồi khi chúng tôi phải chia ly

bởi bảy dòng sông, mười ngọn núi
thì những ngọn núi, dòng sông như vậy
luôn dễ dàng tìm thấy trên bản đồ. 

Công lao của họ

là tôi được sống trong không gian ba chiều
không cần trữ tình, không cần cường điệu
mà với chân trời thực – luôn đổi thay.

Và họ cũng không biết được điều này

họ có được gì khi trắng đôi tay. 

“Tôi không nợ nần gì với họ” –

có lẽ tình yêu sẽ nói điều này
cho cái đề tài còn bỏ ngỏ. 



NHỮNG NGƯỜI TRÊN CẦU

(Ludzie na moście)

Những con người lạ lùng ở hành tinh lạ lùng kia
Họ lệ thuộc thời gian nhưng mà không thừa nhận
Và họ có những cách bày tỏ điều phản kháng
Họ vẽ những bức tranh, ví dụ bức tranh này:

Mới nhìn qua, có vẻ chẳng có gì

Bạn nhìn thấy dòng sông có nước đầy
Và thấy một bờ của dòng sông ấy
Một chiếc thuyền bơi ngược dòng nước chảy
Thấy cầu trên sông, thấy người ở trên cầu
Và những người này có vẻ như đang vội
Bởi vì họ nhìn từ những đám mây
Báo hiệu một cơn mưa rào đang tới. 

Điều đáng nói là mọi hành động đang ngừng lại

Mây không hề đổi thay hình dạng, sắc màu
Mưa không dứt mà cũng chẳng rơi mau
Chiếc thuyền bơi mà dường như đứng lại
Còn trên cầu những con người đang chạy
Y hệt những người đã chạy trước đây. 

Không thể không bình luận bức tranh này:

Đây không phải bức tranh không có lỗi
Bởi thời gian bị làm cho ngừng lại
Không tuân theo những qui luật của đời
Diễn biến của tiến trình bị làm cho thay đổi
Dòng thời gian bị xúc phạm ở đây. 

Do một kẻ nổi loạn nào đó

Có tên là Hiroshige Utagawa*
(Người mà, quả thật là
Đã từ lâu yên nghỉ)
Và thời gian đã sẩy chân rơi.

Có thể đấy chỉ là trò đùa cợt mà thôi

Trong phạm vi thiên hà chỉ một vài
Nhưng mà để đề phòng trong mọi chuyện
Ta sẽ thêm vào đấy một đôi lời:

Bức tranh này được đánh giá tuyệt vời

Được người đời trầm trồ và ngưỡng mộ
Từ thế hệ này truyền qua bao thế hệ. 

Một số người, điều này còn ít ỏi

Mà họ còn nghe cả tiếng mưa giông
Cảm nhận cái lạnh cả trên cổ, trên lưng
Thấy cây cầu và những người trên đấy
Tựa hồ như nhìn thấy mình đang chạy
Theo con đường đi vào cõi vĩnh hằng
Và họ tin tưởng dường như tuyệt đối
Rằng đấy là điều sự thật hiển nhiên.
___________
*Utagawa Hiroshige (sáng tác với bút danh Andō Hiroshige, 1797 – 1858) – là một trong những họa sỹ bậc thầy của dòng tranh truyền thống Ukiyo-e của Nhật Bản nổi tiếng thế giới. 


NHỮNG ĐỨA CON THỜI ĐẠI

(Dzieci epoki)

Tất cả chúng ta là những đứa con
của thời đại chính trị

Tất cả việc làm, của bạn,của tôi

việc vào ban ngày, việc vào buổi tối
đều là chính trị đấy thôi. 

Dù bạn muốn hay không

trong gien của ta vẫn còn quá khứ
da cũng mang màu sắc chính trị
cả trong con mắt chính trị cũng ngời lên. 

Dù bạn nói lời hay bạn lặng im

thì sự im lặng cũng mang ý nghĩa
thế này thế kia đều là chính trị.

Ngay cả khi bạn đi trong rừng

bạn cũng đi bằng bước chân chính trị
lấy chính trị làm căn nguyên. 

Thơ phi chính trị cũng là chính trị

vầng trăng kia tỏa sáng giữa trời xanh
nhưng đối tượng không còn là mặt trăng.
Tồn tại hay không tồn tại – đó là câu hỏi.
Bạn thân yêu, bạn hãy trả lời xem
câu hỏi mang màu sắc chính trị. 

Thậm chí không cần phải làm người

để đạt được tầm quan trọng về chính trị.
Mà chỉ cần là dầu mỏ
đồ tái chế hoặc là thức ăn tinh.  
Hoặc làm chiếc bàn hội nghị
có hình tròn hoặc hình vuông
nơi người ta tranh luận suốt tháng năm
hay người ta đàm phán
về sự chết và sự sống.

Trong khi đó thì con người vẫn lìa trần

súc vật vẫn chết nhiều như thế
những ngôi nhà vẫn chìm trong lửa
đồng ruộng vẫn bỏ hoang
giống như cái thuở nào đó xa xăm
có ai cần gì chính trị. 




ẢNH CHỤP NGÀY 11 THÁNG 9

(Fotografia z 11 września)

Họ nhảy xuống từ những tầng nhà rực lửa
Một người, hai người và bao người nữa
Cao hơn, thấp hơn.

Tấm ảnh ghi lại họ khi còn sống

Còn bây giờ giữ gìn
Khi họ rơi xuống mặt đất bằng. 

Mỗi người trong số họ vẫn nguyên

Với gương mặt của mình
Được che bằng máu. 

Thời gian hãy còn đủ

Để cho tóc họ bay
Và để từ những chiếc túi rơi
Những chìa khóa, những đồng tiền lẻ. 

Họ vẫn còn lơ lửng trong không khí

Trong giới hạn của khoảng không
Cho họ đã mở toang.

Chỉ hai điều cho họ tôi có thể làm

Là mô tả chuyến bay của họ
Và không viết thêm câu cuối cùng. 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét