Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

Par Lagerkvist - Giải Nobel Văn học năm 1951


Par Lagerkvist (23 tháng 5 năm 1891 – 11 tháng 7 năm 1974) – nhà văn, nhà thơ Thụy Điển đoạt giải Nobel Văn học năm 1951 “vì những tác phẩm mang sức mạnh nghệ thuật và sự suy xét độc lập của người đi tìm kiếm trong thơ ca câu trả lời cho những câu hỏi muôn thuở vẫn đứng trước loài người”. Một trong những chủ đề trung tâm của ông là câu hỏi cơ bản về điều Thiện và điều Ác mà ông đã xem xét qua những hình ảnh như Barabbas, người được giải phóng thay vì Jesus và Ahasuerus. Như một nhà đạo đức, ông đã sử dụng các mô típ và hình ảnh tôn giáo từ truyền thống Kitô giáo mà không theo các giáo lý của nhà thờ.   

Tiểu sử:
Par Lagerkvist sinh ở Växjö, từ nhỏ đã yêu thích văn chương và có ý định trở thành nhà văn. Tốt nghiệp Đại học năm 1912, ông bắt đầu in thơ và truyện. Thời kỳ Thế chiến I ông đi sang Đan Mạch, Pháp, Italia và sống ở đó nhiều năm. Sáng tác của ông đề cập đến những vấn đề muôn thuở: cái Thiện và cái Ác trong con người. Năm 1925, ông cho ra đời cuốn tự truyện Người khách của thực tế mang quan điểm nhân đạo, được viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mang tính nghệ thuật cao. 

Năm 1926 ông xuất bản tập thơ Những khúc hát từ trái tim (Hjartats sanger) dành riêng cho người vợ yêu dấu Elaine của mình. Tập thơ này xứng đáng được coi là một trong những kiệt tác thơ tình của Thụy Điển, chính tác giả cũng gọi nó là tập thơ hay nhất của mình. Năm 1940, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Thụy Điển. 

Tiểu thuyết Barabbas (1950) là đỉnh cao sáng tác của Lagerkvist, kể lại cốt truyện của Kinh Phúc Âm một cách chân thực và đầy sức thuyết phục, ngay lập tức được dịch sang 9 thứ tiếng và được dựng thành phim. Tiểu thuyết Barabbas về nỗ lực của con người tìm kiếm đức tin, đề cập đến những vấn đề cấp thiết nhất của tồn tại con người một cách hết sức xác thực và dũng cảm. 

Năm 1967 ông xuất bản tiểu thuyết Mariamne. Ông viết tác phẩm này xuất phát từ một bi kịch cá nhân của mình. Mùa hè năm 1967, người vợ yêu quý sống với ông trong hơn bốn mươi năm đã từ giã ông về với cõi vĩnh hằng. Đây là những gì giải thích cho một sức mạnh phi thường và một cảm xúc chân thành trong câu chuyện. Mariamne là bản tụng ca cô đơn của Lagerkvist thể hiện qua một hiện tượng không bình thường sau nhiều thử nghiệm với sự hiểu biết hiện đại về huyền thoại. Trong cuốn tiểu thuyết này Lagerkvist một lần nữa chứng tỏ là một bậc thầy về bố cục với một hệ thống phức tạp, thường bất ngờ và đa nghĩa xác nhận nguyên tắc lặp lại và phát triển theo hình xoắn ốc.

Pär Lagerkvist kết hôn lần đầu với Karen Sørensen từ năm 1916. Họ có một con gái là Elin Lagerkvist. Sau khi ly dị, ông tái hôn vào năm 1925 với Elaine Hallberg, là vợ góa của nghệ sĩ Gösta Sandels. Trong cuộc hôn nhân thứ hai, ông trở thành bố của Bengt Lagerkvist và Ulf Lagerkvist, đều là những người rất nổi tiếng ở Thụy Điển. 

Par Lagerkvist mất ngày 11 tháng 7 năm 1974 ở Stockholm, hưởng thọ 83 tuổi. 

Tác phẩm
-Những con người (Manniskor, 1912), truyện dài
- Sắt và người (Jam och manniskor, 1915), tập truyện
- Nỗi buồn (Angest, 1916), thơ
- Thời khắc khú khăn I, II, III (Den svara stunden, 1918), kịch
- Bí mật thiên đường (Himlens hemlighet, 1919), kịch
- Nụ cười vĩnh cửu (Det eviga bendet, 1920), truyện dài
- Con đường của người hạnh phúc (Den lyckliges vag, 1921), thơ
- Người vô hình (Den osynlige, 1923), kịch
- Những truyền thuyết anh hùng đáng sợ (Onda sagor, 1924), tập truyện ngắn
- Vị khách của thực tại (Gaest hos verkligheten, 1925), tự truyện
- Bài ca trái tim (Hjartats sanger, 1926), thơ
- Cuộc sống bị chinh phục (Det besegrade livet, 1927), tự truyện
- Người đó sống hết cuộc đời (Han som fick leva om sitt liv, 1928), kịch
- Bên đống lửa (Vid legeraldem, 1932), tập thơ
- Người không có tâm hồn (Mannen utan sjal, 1936), kịch
- Thơ và cuộc chiến (Song och strid, 1940), tập thơ
- Thằng lùn (Dvọrgen, 1944), tiểu thuyết
- Hãy để cho mọi người được sống (Lat manniskam leva, 1949), kịch
- Barabbas (Barabbas, 1950), tiểu thuyết
- Xứ sở hoàng hôn (Aftonland, 1953), tập thơ.
- Sibyllan (1956), tiểu thuyết
- Cái chết của Ahasverus (Ahasverus dod, 1960), tiểu thuyết
- Người hành hương trên biển (Pilgrim pa havet, 1962), tiểu thuyết
- Mariamne (1967), tiểu thuyết

16 bài thơ


EM MỈM CƯỜI

Em mỉm cười – mọi tinh cầu vụt tắt
Em là ước mơ, là hy vọng của anh
Dành cho em những gì có trên mặt đất
Đời không em như sa mạc hoang tàn.

Em lấy đi – nghĩa là em ban tặng
Tiếng xạc xào, điều bí ẩn cho anh
Em mỉm cười – mọi tinh cầu tắt ngấm
Em mỉm cười – chết lặng cả xung quanh.

När du ler förbleknar allt omkring dig

När du ler förbleknar allt omkring dig,
som om jordens glädje räckte blott åt dig.
Livet syns så tomt och öde kring mig,
ljust och lyckligt blott hos dig, hos dig.

Så gör du mig både rik och fattig,
och jag vet ej vad du gav och tog från mig.
Längtar bara efter denna glädje,
som när allt förbleknar strålar ut från dig.


CHÀNG KỊ SĨ PHÓNG NGỰA MỘT MÌNH

Chàng kị sĩ phóng ngựa một mình
Trong đêm dài sau tiếng guốc
Còn những bông hoa rạo rực
Như lửa cháy lên.

Tâm hồn chàng trai như lửa
Và mặt đất mang thai
Và những bông hoa đã nở
Nở ra trong buổi sáng này
Hoa hãy còn rất xa và rất lạ
Để thành kỉ niệm về chàng trai
Đã từ lâu lắm và rất xa xôi
Ở ngoài chiến địa.

Ryttare rider ensam i natten

Ryttare rider ensam i natten,
under hovarna
växer upp blommor
eldröda, vilda
eld är hans själ.
Och jorden befruktas,
bär kostliga blommor
ännu om morgonen,
ännu i fjärran,
främmande tider
som minne av honom
sen långt borta,
fallen i friden.



NGƯỜI YÊU TÔI RA ĐI CHẲNG QUAY VỀ

Người yêu tôi ra đi rồi chẳng quay về
Nhưng tình yêu của tôi thì vẫn còn lại đấy
Những gì đã sống qua không còn quay lại nữa
Nhưng cuộc đời của tôi thì vẫn còn đây.

Min älskade kommer inte åter

Min älskade kommer inte åter,
men min kärlek kommer åter till mig.
Det jag levat kommer inte åter,
men mitt liv är åter hos mig.


TRÍCH TỪ “XỨ SỞ HOÀNG HÔN”

Em rồi sẽ trở thành một trong những người thượng cổ
Mặt đất sẽ nhớ về em như đất nhớ hoa cỏ, nhớ rừng
nhớ những chiếc lá kim.
Như đất nhớ
như núi đồi nhớ gió.
Sự yên lặng của em sẽ như biển, vĩnh hằng. 

(ur "Aftonland")

Engong skall du vara en av dem som levat fёr lеngesen.
Jorden skall minnas dig sо som den minns grеset och skogarna,
det multnade lёvet.
Sо som myllan minns
och sо som bergen minns vindarna.
Din frid skall vara o;ndlig sо som havet.


CUỘC ĐỜI TA CHỈ LÀ KHOẢNH KHẮC

Cuộc đời ta chỉ là khoảnh khắc
nếu so với sự tồn tại của linh hồn
và trong phút chốc
sự giải thoát
đã vội vàng trên đôi cánh tới không trung. 

Vad еr vaart liv, den korta stunden

Vad еr vaart liv, den korta stunden,
mot livet som vaar sjel tillhёr, 
ur tiden lёses den 
obunden 
och med sin vinge himlen rёr.



NHƯ BÔNG HOA HẠNH NHÂN

Như một bông hoa hạnh nhân
Người yêu của tôi đẹp dịu dàng
Ngọn gió hãy hát lên, ngọn gió
Nàng đẹp vô cùng!

Như một bông hoa hạnh nhân
Làn da trắng, nét trẻ trung
Chỉ cơn gió ban mai biết được
Nàng đẹp vô cùng.

Như một bông hoa hạnh nhân
Người yêu của tôi đẹp dịu dàng
Nhưng bóng tối xung quanh tôi vây kín
Liệu nàng có hạnh phúc ở đây không?

Som ett blommande mandeltrеd

Som ett blommande mandeltrеd
еr hon som jag har kеr.
Sjung du vind, sjung sakta fёr mig
om hur ljuvlig hon еr.

Som ett blommande mandeltrеd,
sо spеd, sо ljus och skеr.
Bara du, ёmmaste morgonvind,
vet hur ljuvlig hon еr.

Som ett blommande mandeltrеd
еr hon som jag har kеr.
Nеr det nu mёrknar sо tungt omkring mig,
kan hon vеl leva hеr?


SÂU NHƯ MẤT MÁT

Cái gì có thể sâu hơn sự mất mát
Cái gì lấp đầy con tim hơn là sự trống trơn
Cái gì làm ngập cõi lòng bằng việc đi tìm cái không
Em biết đấy mà em chẳng biết.

Người ta mang lại cho em sự bình yên ấm áp
Cháy trong lửa của em, yên bình trong ngọn lửa của tay em
Nhưng hạnh phúc của người đâu so được
sự trống vắng của anh
và khi em với người ta hòa nhập
là chống lại sự cô đơn của anh. 

Djupt som saknad

Vad еr djupt som saknad.
Vad fyller vоra hjеrtan sо som tomhet.
Vad uppfyller sjеlens; som lеngtan efter nоgot som inte finns,
som den vet inte finns.

Andra fоr ro hos dig.
Andra brinner i din eld, vilar i dina lеgande armar.
Men vad еr deras lycka
mot min tomhet,
deras glеdande fёrening med dig
mot min ensamhet.



TÌNH YÊU ĐƠN PHƯƠNG   

Không phải Chúa yêu chúng ta, mà chúng ta yêu Người.
Ai khao khát Người trong khát khao một điều gì đó khác
một cái gì đó ngoài chính chúng ta, như trong tình yêu.

Và niềm khao khát của chúng ta càng cháy bỏng hơn 
khi nó càng ít được đáp lại
nỗi tuyệt vọng của chúng ta càng sâu 
khi chúng ta càng hiểu rằng chúng ta bị bỏ rơi.
Rằng chúng ta không được ai yêu cả.

Còn gì sâu như mất mát, như tình yêu đơn phương.  

Obesvarad kärlek

Det är inte gud som älskar oss, det är vi som älskar honom.
Som sträcker oss efter honom i längtan efter något annat,
något utöver oss själva, så som kärleken gör.

Och vår längtan blir hetare ju mindre den besvaras,
vår förtvivlan djupare ju mer vi förstår att vi är övergivna.
Att vi är älskade av ingen.

Vad är djupt som saknad, som obesvarad kärlek.


HÃY GIỮ ANH BẰNG BÀN TAY VÔ HÌNH

Hãy giữ anh bằng bàn tay vô hình
Và xin làm ơn – đừng thả
Hãy đưa anh qua những cây cầu bình minh
Trên miệng vực kinh hoàng
Nơi bóng đêm em giam giữ. 

Nhưng làm sao giữ mãi được bóng đêm
Và trên cây cầu ít nữa buổi chiều đổ xuống
Còn sau đấy – là đêm

Và anh, có thể sẽ rất cô đơn.  

Hоll mig i din okеnde hand

Hоll mig i din okеnde hand
och slеpp mig inte.
Fёr mig pо morgonljusa broar
ёver de svindlande djup
dеr du hоller mёrkret fеngslat.

Men mёrkret f;ngslar man inte lеnge.
Snart skall det vara afton ёver dina broar
och natt.

Och kanske skall jag vara mycket ensam.



BẠN XA

Tôi có bạn xa, người mà tôi không biết
Người bạn xa ở bên kia đại dương
Tôi quan đến người bạn thường xuyên
Bạn là ai – người mà tôi không biết
Mà có thể là không có ở trần gian?

Bạn là ai, người làm đầy tôi bằng sự không có mặt của mình?
Bạn là ai, sự không có mặt kia làm đầy thế giới?

En frеmling 

En frеmling еr min vеn, en som jag inte kеnner.
En frеmling lоngt lоngt borta.
Fёr hans skull еr mitt hjеrta fullt av nёd.
Fёr att han inte finns hos mig.
Fёr att han kanske inte alls finns?

Vem еr du som uppfyller mitt hjеrta med din frоnvaro?
Som uppfyller hela vеrlden med din frоnvaro?


CHIẾC THUYỀN CỦA CUỘC SỐNG

Chẳng bao lâu bạn sẽ chết và không biết bạn đang lướt
trên thuyền của cuộc sống đi sang bờ bến khác
nơi buổi sáng chờ trên những bãi bồi kia. 

Đừng hốt hoảng. Đừng sợ giây phút giã từ. 
Sẽ có một bàn tay cẩn trọng
sửa lại cánh buồm cho bạn
để lướt như bay
từ đêm sang ngày.
Bạn đừng lo lắng
theo bờ im lặng
và bằng con đường nhung
của hoa cỏ hoàng hôn.

Livsboten

Snart еr du dёd och vet ej att du glider
pо livets bоt bort mot de andra landen
dеr morgon vеntar dig pа dolda strеnder.

Oroas ej. Rёds ej i uppbrottstimman.
En vеnlig hand lugnt ordnar
bоtens segel,
som fоr dig bort fron
kvеllens land till dagens.
Gо utan еngslan ner
i strandens tystnad,
den mjuka stigen genom
skymningsgrеset.


ƯỚC MUỐN

Tôi là ngôi sao tỏa sáng trong em
Hãy cứ để tâm hồn em tĩnh lặng
Bởi nếu khác, tôi làm sao phản ánh
Hồn em là nhà tôi. Cách khác không còn.

Nhưng hồn em chắc gì có thể lặng yên
Khi ánh sáng của tôi trong hồn em tỏa sáng.   

Vill

Jag еr stjеrnan som speglar sig i dig.
Din sjеl skall vara stilla,
annars kan jag inte spegla mig i den.
Din sjеl еr mitt hem. Jag har inget annat.

Men hur skulle du kunna vara stilla
nеr mitt ljus skеlver i din sjеl.


TẤT CẢ TRÊN ĐỜI NÀY LÀ HƯ KHÔNG

Tất cả trên đời này là hư không
Nhưng có một điều gì đấy lớn lên
Như đám mây giữa bấu trời xanh
Đang hấp thụ vào mình tất cả.

Và ngay trong giờ phút đó
Em ngỡ rằng mình quan trọng vô cùng
Nhưng phút chốc trở nên mất giá
Em ra đi, cát bụi mang theo mình
Em cũng là cát bụi.

Tất cả trên đời này là hư không

Det mesta еr sо betydelselёst

Det mesta еr sо betydelselёst.
Men so finns det nogonting oerhёrt som stiger upp som
ett glёdande moln pо himlen
och fёrtеr allt.

Dо blir allting fёrvandlat
och det som nyss tycktes dig av stёrsta vеrde
har inget vеrde alls fёr dig mer.
Och du gоr bort genom alltings aska
och еr sjеlv aska.

Det mesta еr sо betydelselёst.


TÔI MUỐN BIẾT

Tôi muốn biết – chỉ nhận được câu hỏi
Tôi muốn ánh sáng – chỉ được bỏng nhức nhối.
Tôi muốn một điều gì đó thật khó tin
Nhưng chỉ nhận được cuộc đời như vậy.

Tôi tiếc thương mình. Nhưng không ai hiểu tôi muốn gì.

Jag ville veta 

Jag ville veta men fick bara froga,
jag ville ljus men fick bara brinna.
Jag begerde det oerhёrda
men fick bara leva.

Jag beklagade mig. Men ingen fёrstod vad jag mente.



TẤT CẢ ĐƯỢC TRANG ĐIỂM

Tất cả được trang điểm bằng ánh hoàng hôn.
Tất cả tình yêu nằm ở trung tâm.
bầu trời trong ánh sáng đục
trên mặt đất
trên ngôi mộ vĩnh hằng. 

Tất cả dịu dàng, lòng tin của bàn tay âu yếm.
Chúa Trời hủy bỏ những bờ bến xa xăm.
Cái ở xa, ta nhìn thấy thật gần.
Tất cả ta được trời ban
nhưng chỉ cho ta mượn.

Những gì của tôi sẽ lấy về đúng hạn
và sắp tới đấy sẽ bị thu hồi.
Chỉ vĩnh viễn cỏ cây, mặt đất, bầu trời.
Và tôi sẽ lang thang thơ thẩn
một mình tôi, không dấu vết trên đời. 

Det är vackrast när det skimmer

Det еr vackrast nеr det skymmer.
All den kоrlek himlen rymmer
ligger samlad i ett dunkelt ljus
ёver jorden, 
ёver markens hus.

Allt еr ёmhet, allt еr smekt av hеnder.
Herren sjelv utplenar fjеrran strеnder.
Allt еr nеra, allt еr lоngt ifrоn.
Allt еr givet 
menniskan som lоn.

Allt еr mitt, och allt skall tagas frоn mig,
inom kort skall allting tagas fron mig.
Trеden, molnen, marken dеr jag gоr.
Jag skall vandra -
ensam, utan spоr.


KHÔNG HOÀNG HÔN, NĂM THÁNG

Không hoàng hôn, năm tháng bắt được ta
Giữa bầu trời – màu xanh và tĩnh lặng
Ta có nhau trong đời, có nghĩa là
Cả vũ trụ dịu êm và đằm thắm.

Em xinh đẹp, tắm mình trong sương sớm
Ánh sáng mặt đất trong sáng, rõ ràng
Em thánh thiện, tuyệt vời trong kí ức của anh
Anh chia sẻ cùng em phút giây âu yếm.



J. R. Jiménez - Giải Nobel Văn học năm 1956


Juan Ramon Jiménez (24tháng 12 năm 1881 – 29 tháng 5 năm 1958) là nhà thơ Tây Ban Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1956 “vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha”. Các nhà phê bình thường nói đến ba giai đoạn trong sáng tạo của ông. Lúc đầu, ông chịu sự ảnh hưởng của thơ Becquer và các nhà thơ tượng trưng Pháp (Baudelaire, Verlaine). Giai đoạn thứ hai được đánh dấu bởi tác động của thơ tiếng Anh (Blake, Shelley, Emily Dickinson, William Butler Yeats). Giai đoạn thứ ba được xác định bởi sự lưu vong lâu dài, đây là giai đoạn tìm kiếm tinh thần, mong muốn đạt được giác ngộ, gần gũi nhất với truyền thống của các nhà thần bí Tây Ban Nha.

Tiểu sử:
Juan Ramón Jiménez sinh ở Moguer, gần Huelva, học xong cao đẳng Jimenez vào Đại học Seville nhưng bỏ để đi làm báo. Năm 1900, xuất bản tập thơ đầu tiên Hồn hoa tím (Almas de violeta) và tiếp theo đó gần như mỗi năm một tập thơ ra đời. Sáng tác thời kỳ đầu của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Đức và chủ nghĩa tượng trưng Pháp, giàu cảm xúc trữ tình với những hình tượng thiên nhiên đầy màu sắc.

Năm 1916, Jiménez sang New York cưới một cô gái Mỹ (mà ông làm quen trước đó 4 năm và đã cùng nhau dịch tác phẩm của Rabindranath Tagore sang tiếng Tây Ban Nha). Chuyến đi vượt đại dương này đã đánh dấu một cột mốc trong sáng tác của ông bằng tập thơ tự do Nhật ký nhà thơ mới cưới vợ (Diario de un poeta recién casado) ra đời năm 1917. Từ thập niên 1920, Jiménez được tôn vinh như một bậc thầy của thế hệ các nhà thơ mới; trong sáng tác, ông từ bỏ cách viết cũ, hướng thơ ca đến sự cởi mở, trong sáng mang tính nghệ thuật thuần túy.

Thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha, ông được cử làm tùy viên văn hóa danh dự ở Mỹ, nhiều lần đến đọc bài giảng ở các trường đại học Mỹ, Puerto Rico và Cuba. Năm 1939 Francisco Franco lên nắm quyền ở Tây Ban Nha, ông và vợ quyết định không quay trở về tổ quốc. Năm 1956 ông được trao giải Nobel "vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha".

Juan Jiménez là một tấm gương suốt đời tận tụy, trung thành với nghệ thuật thơ ca. Đối với ông, nghệ thuật là tôn giáo, trong đó thơ là nghi lễ duy nhất, sáng tạo là hình thức tín ngưỡng độc tôn. Thơ của Jimenez được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. 


Juan Ramon Jiménez mất tại Puerto Rico năm 1958, hưởng thọ 76 tuổi.

Tác phẩm:
Hồn hoa tím (Almas de violeta, 1900), thơ
Những bông huệ nước (Ninfeas, 1900), thơ
Vần điệu (Rimas, 1902), thơ
Những khúc ca buồn (Arias tristes, 1903), thơ
Những khu vườn xa (Jardines lejianos, 1904), thơ
Những bài thơ đồng quê (Pastorales, 1905), thơ
Những khúc bi ca (Elejias puras, 1908), thơ
Những khúc ca xuân (Baladas de primavera, 1910), thơ
Sự cô đơn âm vang (La soledad sonora, 1911), thơ
Những bài thơ huyền ảo đau buồn (Poemas májicos y dolietes, 1911), thơ
Mê cung (Laberinto, 1913), thơ
Mùa hè (Estio, 1915), thơ
Những bài sonet trí tuệ (Sonetos espirituales, 1917), thơ
Nhật kí nhà thơ mới cưới vợ (Diario de un poeta recién casado, 1917), thơ
Vĩnh cửu (Eternidades, 1918), tập thơ
Đá và bầu trời (Piedra y cielo, 1919), thơ
Thơ ca (Piedra, 1923), thơ
Vẻ đẹp (Belleza, 1923), thơ
Con thú từ độ sâu tâm hồn (Animal de fondo, 1949), thơ






25 bài thơ Song Ngữ

1-TUỔI TRẺ
(Adolescencia)

Chỉ còn lại ngươi và ta
Ta và ngươi trên ban công yên lặng
Ta gọi ngươi là vợ của ta
Trong buổi sáng này ít nắng.

…Cả thiên nhiên trong lười nhác ngọt ngào
Màu sắc mờ, bóng cây tái nhợt
Còn bầu trời xám xịt
Ánh sáng mùa thu mờ đục biết bao.

Ta ép sát môi vào
Và đôi mắt không mở
Còn ngươi kề đôi má
Như ngọc, như châu.

…Lá vàng chất thành đống
Trên những lối đi
Nhưng mùi hương còn thoảng
Mùi hoa hướng nhật quì.

Ta gọi ngươi là vợ của ta
Còn ngươi cúi đầu im lặng
Nhưng từ đôi mắt nóng bỏng
Hai giọt nước mắt tuôn ra.

ADOLESCENCIA

En el balcón, un instante
nos quedamos los dos solos.
Desde la dulce mañana
de aquel día, eramos novios.

— El paisaje soñoliento
dormía sus vagos tonos,
bajo el cielo gris y rosa
del crepúsculo de otoño —.

Le dije que iba a besarla;
bajo, serena, los ojos
y me ofreció sus mejillas,
como quien pierde un tesoro.

— Caían las hojas muertas,
en el jardín silencioso,
y en el aire erraba aun
un perfume de heliotropos —

No se atrevía a mirarme;
le dije que eramos novios,
...y las lagrimas rodaron
de sus ojos melancólicos.


2-NGỌN GIÓ TRONG BUỔI CHIỀU
(¡La otra tarde, se ha llevado)

Le vent de l'autre nuit
a jeté bas l'Amour…
P. Verlaine

Ngọn gió trong buổi chiều thu nhè nhẹ
Cuốn đi những chiếc lá vàng.
Những hàng cây buồn bã đứng trong đêm
Chao ôi, đêm sao mà dài thế!

Ánh trăng vàng lờ đờ, không sức sống
Bơi lững lờ trên những cành đen
Không tiếng khóc, chẳng nụ hôn
Trong ánh sáng của trăng đều chết lặng.

Tôi dịu dàng cùng hàng cây thỏ thẻ:
Đừng khóc thương chi những chiếc lá vàng
Sẽ nẩy lộc đâm chồi khi đến mùa xuân
Trên những cành cây mùa thu này trụi lá.

Nhưng hàng cây đứng lặng im buồn bã
Và tiếc thương cho mất mát của mình…
Xin đừng khóc cho những chiếc lá vàng
Hãy để lá xanh mọc ra thay thế.
_______________
*Trong đêm ngọn gió xô tượng Thần tình yêu xuống đất. 
P. Verlaine.

“¡La otra tarde, se ha llevado  …“

(Le vent de l'autre nuit
a jeté bas l'Amour...
P. Verlaine)

¡La otra tarde, se ha llevado
el viento mas hojas secas!
¡Que pena tendrán los arboles,
esta noche sin estrellas!

He entreabierto mi balcón:
— La luna camina muerta,
sin luz de besos ni lagrimas,
amarilla entre la niebla —.

Y he acariciado los arboles,
con miradas de terneza,
que les van abriendo hojitas
verdeluz de primavera.

¿Es que están soñando, así,
con sus pobres hojas secas?
Yo les digo: «No lloréis;
vendrán con las hojas nuevas».



3-TÔI TỪNG NÓI VỚI EM
(Yo dije que me gustaba)

Tôi từng nói với em, có một lần
và em chăm chú nghe tôi, im lặng
rằng tôi rất thích vào mùa xuân
tình yêu mặc áo quần màu trắng.

Đôi mắt xanh thắm ngước lên
ngắm nhìn tôi với niềm hi vọng
chỉ bờ môi còn bé bỏng
ánh lên một nỗi buồn.

Từ dạo ấy, khi đi qua quãng trường
tôi đi trong hoàng hôn tháng Năm yên lặng
còn em, đứng bên cửa ngoái nhìn
rất nghiêm túc, trong áo quần màu trắng.

“Yo dije que me gustaba …”

Yo dije que me gustaba
— ella me estuvo escuchando
que, en primavera, el amor
fuera vestido de blanco.

Alzo sus ojos azules
y se me quedó mirando,
con una triste sonrisa
en los virjinales labios.

Siempre que cruce su calle,
al ponerse el sol de mayo
estaba seria, en su puerta,
toda vestida de blanco.


4-KHI NGƯỜI PHỤ NỮ Ở CÙNG ANH
(Cuando la mujer está)

Khi người phụ nữ ở cùng anh…
thì âm nhạc, lửa, hoa lá cành
tất cả trong dịu êm, tĩnh lặng.
Còn nếu người phụ nữ không cùng anh
thì tất cả sẽ trở nên điên cuồng
cả âm nhạc, lửa và ánh sáng.

“Cuando la mujer está, …”

Cuando la mujer está,
todo es tranquilo, lo que es
— la llama, la flor, la música
Cuando la mujer se fue
— la luz, la canción, la llama
¡todo! es, loco, la mujer.



5-TRĂNG CÔ ĐƠN
(Luna Sola)

Màu tím vang lên, và ánh trăng buồn bã
Trải từ phương đông bằng sương đến bình minh
Tiếng chó sủa chốn ngoại ô lặng ngừng
Thời gian biến mất, rồi chìm trong hoang dã.

Ánh trăng rót lên hàng dương nghĩa địa…
Trong nhà thờ xưa, rêu sáng dưới trăng
Nước mắt ánh lên trong mạch nước vội vàng
Mặt đất hoang vu. Và chỉ còn biển cả…

LUNA SOLA

Cesó el clarín agudo, y la luna esta triste.
Grandes nubes arrastran la nueva madrugada.
Ladra un perro alejándose, y todo lo que existe
se hunde en el abismo sin nombre de la nada.

La luna dorara un viejo camposanto...
Habrá un verdín con luna sobre una antigua almena.
En una fuente sola, sera una luna en llanto...
Habrá una mar sin nadie, bajo una luna llena...


6-GỬI NHÀ THƠ
(A UN POETA para un libro no escrito)

Ta hãy tạo nên những cái tên

Trời cho ta một cuộc đời ngắn quá
Và cuộc sống các loài – thì cũng thế.
Còn đến muôn đời chỉ những cái tên
Không phải tình yêu – mà bài hát về tình
Không phải cỏ hoa – mà tên gọi loài hoa cỏ.

Cả tình yêu và cả loài hoa lá
Có cuộc đời bất tử khi ai gọi tên mình

Ta hãy tạo nên những cái tên.

A UN POETA para un libro no escrito

Creemos los nombres.

Derivaran los hombres.
Luego, derivaran las cosas.
Y sólo quedara el mundo de los nombres,
letra del amor de los hombres,
del olor de las rosas.

Del amor y las rosas,
no ha de quedar sino los nombres.

¡Creemos los nombres!



7-TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI MUÔN THUỞ
(Tarde ultima y serena)

Đã đến đây, như cuộc đời, ngắn quá
Rồi chia tay, lặng lẽ một buổi chiều.
Vĩnh biệt tất cả những gì đáng yêu…
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Những chiếc lá trong vườn vàng úa
Còn tôi đang huỷ hoại tâm hồn
Cháy lên sắc đồng của buổi hoàng hôn
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Chao ôi, cuộc đời này đẹp quá!
Xin đừng tắt những ngọn nến ai ơi…
Hãy để cho buổi chiều đến muôn đời
Và tôi sẽ là người muôn thuở!

“Tarde ultima y serena, …”

Tarde ultima y serena,
corta como una vida,
fin de todo lo amado;
¡yo quiero ser eterno!

— Atravesando hojas,
el sol, ya cobre, viene
a herirme el corazón.
¡Yo quiero ser eterno! —

Belleza que yo he visto,
¡no te borres ya nunca!
Porque seas eterna,
¡yo quiero ser eterno!


8-HÃY TRAO ANH BÀN TAY
(¡Tus dos manos, esperanza)

Hãy trao anh bàn tay, niềm hy vọng
Hãy theo về sau bờ giậu cùng anh
Ta đến nơi những vì sao toả sáng
Giữa tâm hồn, như ở giữa trời xanh.

Khép giùm anh – bằng bàn tay khác hẳn –
Đôi mắt anh, và sau phía lối mòn
Dẫn đường cho anh như người mù quáng
Bằng bàn tay như tuyết lạnh của em.

Nhưng mà qua miền xa thẳm mênh mông
Ta sẽ nhìn qua sắc màu buồn bã
Dưới ánh trăng đầy đặn của trái tim
Một màu xanh của tình yêu chan chứa.

Hãy chôn vùi anh, ở trong lòng anh
Khỏi cái nóng của cuộc đời hoang vắng
Để con đường trải rộng đến mênh mông
Nơi đất sâu, như bầu trời, xanh thắm.

“¡Tus dos manos, esperanza…”

¡Tus dos manos, esperanza
mía, y condúceme, enhiesto,
bajo las estrellas puras
del cielo que llevo dentro!

Clara, la una me guíe;
con otra, déjame ciego
en la pureza de nieve
de su palma de lucero.

— ¡Paisajes que, por lo hondo
de mi alma azul, veremos:
lunas de mi corazón,
fuentes de mi sentimiento! —

¡No me dejes mas salir
a los deciertos del cuerpo!
¡Siempre adelante, esperanza,
por dentro de mí, derecho!


9-KHÔNG CÓ GÌ
Nada (A tu abandono opongo la elevada)

Như một cái tháp cao – những ý nghĩ của anh
Trong sâu thẳm của em xếp lên chóp ngọn
Và con tim từ trên cao chiếu vào trên biển
Bọt màu hồng của sóng biển trào dâng.

Còn anh cháy lên như màu vàng của lửa
Trong bóng tối của mình anh đốt bình minh
Trụ đỡ duy nhất ngự trị ở trong mình
Thế giới này… có là vô tích sự?

Không có gì!… và con tim chối bỏ
Chìm vào sâu, và trong đáy bầu trời
Lạnh lẽo vô cùng, đờ đẫn lẻ loi…

Em - đấy là em, mùa xuân! tâm hồn hớn hở
Là lửa, nước, là không khí, đất đai
…còn anh chỉ là ý nghĩ và không có gì ngoài…


NADA

A tu abandono opongo la elevada
torre de mi divino pensamiento.
Subido a ella, el corazón sangriento
verá la mar, por el empurpurada.

Fabricare en mi sombra la alborada,
mi lira guardare del vano viento,
buscare en mis entrañas mi sustento...
Mas iay!, ¿y si esta paz no fuera nada?

¡Nada, sí, nada, nada!.. — O que cayera
mi corazón al agua, y de este modo
fuese el mundo un castillo hueco y frío...

Que tú eres tu, la humana primavera,
la tierra, el aire, el agua, el fuego, ¡todo!
... ¡y soy yo solo el pensamiento mío!



10-BAY ĐI NHỮNG MŨI TÊN VÀNG
(Por doquiera, flechas de oro)

Bay đi những mũi tên vàng
từ mùa thu ngoài mặt trận.
Một nỗi đau ngự trị giữa không gian
như thuốc độc trong vết thương đau đớn.

Còn ánh sáng, và hoa, và đôi cánh
như những người chạy nạn đứng trên bờ.
Và con tim đang bơi ra ngoài biển
để trên bờ bao nhiêu nỗi buồn lo.

Tất cả than phiền, tất cả gọi
ai ai cũng ngóng đợi trả lời.
Câu hỏi: ngươi ở đâu?.. ngươi đi đâu đấy?..
nhưng câu trả lời không rõ một ai…


 “Por doquiera, flechas de oro …”

Por doquiera, flechas de oro
matan al verano. El aire
lleva penas diluidas,
como venenos la sangre.

Todo — las alas, las flores,
la luz — se va de viaje.
¡Qué de despedidas tristes!
El corazón al mar sale.

Escalofríos y lágrimas.
— ¿Adonde os vais? — ¿Donde estáis?
Todo a todo le pregunta.
Nada ni nadie lo sabe...



11-CÂY CẦU TÌNH YÊU XƯA
(A la puente del amor)

Ta lại đứng bên cây cầu tình yêu xưa
Cây cầu nối hai bờ vách đá
Con tim hãy quên bóng cành bóng lá
Và hãy quên những cuộc hẹn hò.

Giờ với ta dòng nước là bạn gái
Dòng nước đi nhưng chẳng đổi thay
Dòng nước chảy như thời gian trôi vậy
Dẫu ra đi, không từ giã người này.


“A la puente del amor, …”

A la puente del amor,
piedra vieja entre altas rocas
— cita eterna, larde roja —,
vengo con mi corazón:

Mi novia sola es el agua,
que pasa siempre y no engaña,
que pasa siempre y no cambia,
que pasa siempre y no acaba. –

12-GIẤC MỘNG CỦA EM
(El dormir os como un puente)

Giấc mộng của em – như cây cầu trong đêm vắng
em lang thang trong tĩnh lặng trên cầu.
Còn phía dưới – tiếng rì rào như trong mộng
nhưng có phải tâm hồn và dòng nước kia đâu.

 “El dormir os como un puente …”

El dormir os como un puente
que va del hoy al mañana.
For debajo, como un sueño,
pasa el agua.


13-EM ĐỪNG VỘI
(¡No corras, ve despacio)

Em đừng vội, bởi vì rằng tất cả
mọi con đường dẫn em đến với mình.

Em đừng vội, nếu không sẽ muộn màng
nếu không, cái “tôi” của riêng em đó –
đứa bé con, không phút chốc – sinh ra
và em muôn thuở
không đuổi kịp bao giờ!


 “¡No corras, ve despacio, …”

¡No corras, ve despacio,
que adonde tienes que ir es a ti solo!

¡Ve despacio, no corras,
que el niño de tu yo, reciennacido
eterno,
no te puede seguir!



14-MỘT Ý NGHĨ MÀU ĐEN
(Se entró en mi frente el pensamiento negro)

Hiện lên một ý nghĩ màu đen
Như con chim bay từ trong đêm vắng
Giữa ban ngày, bên cửa sổ ngồi lên.

Tôi không biết làm sao xua đuổi được chim!

Chim ngồi đấy, lặng im, bất động
Xa lạ với hoa và suối và sông.

“Se entró en mi frente el pensamiento negro, …”

Se entró en mi frente el pensamiento negro,
como un ave nictálope,
en un cuarto, de día.

— ¡No sé qué hacerle para que se vaya!

Esta aquí, quieto y mudo,
sin ver las aguas ni las rosas.
  




15-TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI
(Yo no soy yo)


Tôi không phải là tôi.
Mà là ai đấy khác.
Tôi đi với ai, tôi nhìn thấy ai người
hầu như không thể nào phân biệt được.
Khi tôi huyên thiên, ai im lặng
ai tha thứ, khi tôi căm thù
ai đến, khi tôi bỏ đi
và ai đứng vững khi tôi ngã xuống.

 “Yo no soy yo …”

Yo no soy yo.
Soy este
que va a mi lado sin yo verlo;
que, a veces, voy a ver,
y que, a veces, olvido.
El que calla, sereno, cuando hablo,
el que perdona, dulce, cuando odio,
el que pasea por donde no estoy,
el que quedará en pie cuando yo muera.


16-CÓ PHẢI LỜI EM
(¿Era su voz la fuga del arroyo)

Có phải lời em là tiếng vang của suối
đã mất rồi trong phản chiếu ánh hoàng hôn
hay ánh phản chiếu của hoàng hôn sau cuối
trên mặt nước trôi đi, và đã không còn?

 “¿Era su voz la fuga del arroyo,  …”

¿Era su voz la fuga del arroyo,
que se oía correr en el poniente rápido;
o la luz del ocaso moribundo,
que corría en el agua que se iba?


17-TÌNH YÊU
Amor (Mi corazón estaba…)

Con tim tôi
tựa như đám mây trĩu nặng
cháy lên bằng lửa hoàng hôn muộn
co thắt vào bởi nỗi đau
xuyên qua lửa, vàng, ánh sáng.

AMOR

Mi corazón estaba
como un nubarrón cárdeno,
de un poniente de fuego;
¡retorcido, morado de dolor,
trasparente de luz, de fuego, de oro!



18-HOA HỒNG
(Rosas)

Em đã chết
Nhưng tại sao vẫn sống nỗi buồn
Từ đôi mắt nhìn màu đen như trước?

Chẳng lẽ niềm vui khi chết không thoát được?
Và một điều còn mãi – nỗi đau khổ của ta?

ROSAS

¿Como, si estás ya muerta,
la pena mira así,
viva, en tos ojos todavía negros?

¿Qué es lo que muere, entonces, la alegría?
¿Qué es, entonces, lo eterno, la tristeza?



19-NỖI BUỒN TỘI NGHIỆP CỦA TÔI
(Mi Triste Ansia)

Màn sương trải rộng
chứ không phải dòng sông.
Và làm tan sương – là sóng
như một nỗi buồn.

Làn khói vẫy vùng
chứ không phải là đôi cánh.
Rồi khói tản ra – trở thành
ánh sáng.

Không phải tâm hồn hành hạ
mà chỉ giấc mơ.
Và tan ra tất cả
như một giấc mơ.

MI TRISTE ANSIA

Lo que corre por la tierra es humo,
no agua.
Y su azul se desvanece como
mi ansia.

Lo que vuela por el aire es bruma,
no ala.
Y su pluma se deshace como
mi ansia.

Lo que sube por la sombra es sueño,
no alma.
Y su gris se descompone como
mi ansia.


20-ĐẠI TÂY DƯƠNG KHÔNG BỜ BẾN
(Este inmenso Atlántico)

Một vực thẳm của sự cô đơn.
Một người đến với đại dương từ xa lắm
một mình, cô đơn như con sóng
con sóng một mình trên biển cô đơn.

ESTE INMENSO ATLÁNTICO

La soledad esta sola.
Y sólo cl solo la encuentra
que encuentra la sola ola
al mar solo que se adentra.


21.TA VẪN NGHĨ RẰNG MỌI THỨ TRÊN TRẦN
(Creímos que todo estaba)

Ta vẫn nghĩ rằng mọi thứ trên trần
sẽ đi vào lãng quên và biến mất…
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Trên màn sương trắng như kính như gương
nóng bỏng vô cùng những dòng nước mắt…
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Giữa trời ướt át và vẻ lạnh lùng
ngày đen đang dần chết.
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Creímos que todo estaba

Creímos que todo estaba
roto, perdido, manchado...
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —

¡ Lagrimas rojas, calientes,
en los cristales helados!..
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —

Se acababa el día negro,
revuelto en frío mojado...
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —




22.THU CA 

Sếu bay dưới trời hoàng hôn… Sếu bay đi về đâu?
Dòng sông đầy ắp lá vàng… Sông chảy về đâu?
Tôi đi trên cánh đồng vàng … về đâu chẳng biết
Hỡi mùa thu vàng, chim và hoa, và nước chảy về đâu?

CANCIÓN DE OTOÑO

Por un camino de oro van los mirlos... ¿A donde?
Por un camino de oro van las rosas... ¿A donde?
Por un camino de oro voy... ¿A donde,
otoño? ¿A dónde, pájaros y flores?


23.HỠI NGƯỜI HỌA SĨ 
(Pintor que me has pintado) 

Hỡi người họa sĩ, anh đã vẽ tôi
giống hệt tôi và vô cùng sống động
làm tôi tin rằng đấy chính là tôi
còn bây giờ xin anh hãy vẽ tôi
sao cho không hề giống
để tôi tin rằng: hình ảnh – dối gian thôi.

Pintor que me has pintado

Pintor que me has pintado
en este cuadro vago de la vida,
tan bien, que casi
parezco de verdad; ¡ay; pínta-
me nuevamente, y mal, le modo
que parezca mantira!


24.ĐIỀU GÌ XẢY RA VỚI ÂM NHẠC 
(¿Qué le pasa a una música)

Điều gì xảy ra với âm nhạc
khi im bặt dây đàn
điều gì xảy ra với tia sáng
khi không còn lấp lánh ngọn hải đăng?
Hãy thừa nhận 
hỡi tử thần
Có phải ngươi là bóng đêm và tĩnh lặng?

¿Qué le pasa a una música

¿Qué le pasa a una música,
cuando deja de sonar; qué
a una brisa que deja
de revolar, y qué
a una luz que se apaga?
Muerte, di, ¿y que eres tu sino silencio,
calma y sombra?




25.ANH SẼ HỒI SINH 
(Renaceré yo)

Anh sẽ hồi sinh làm hòn đá trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm cơn gió trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm con sóng trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm ngọn lửa trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm một người đàn ông
Và lại yêu em như một người phụ nữ. 

Renaceré yo

Renaceré yo piedra,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo viento,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo ola,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo fuego,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo hombre,
y aún te amaré mujer a ti.