Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

Anatole France - Giải Nobel Văn học năm 1921


Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm 1844 – 13 tháng 10 năm 1924) – nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Văn học năm 1921 “vì những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gôloa đích thực”. Ông là một tiểu thuyết gia thành công với nhiều cuốn sách bán chạy nhất. Với vẻ mỉa mai, chua chát và hoài nghi, ông được coi là một nhà văn lý tưởng của nước Pháp. France cũng được nhiều người tin là hình mẫu trong tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Bergotte. 

Tiểu sử:
Anatole France sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).

Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”..

Anatole France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ngoài văn xuôi, France còn là một nhà thơ, nhà phê bình xuất sắc nhất về thực tế đương đại của nước Pháp. Ông thể hiện sự yếu kém và suy giảm đạo đức của bản chất con người, sự không hoàn hảo và sự quái gỡ của đời sống xã hội, của phong tục, của quan hệ con người, nhưng trong những lời chỉ trích của ông có một sự hòa giải đặc biệt, sự chiêm niệm triết học và sự thanh thản được sưởi ấm bằng tình cảm yêu thương đối với nhân loại. Ông không phán xét và không giảng đạo đức, mà chỉ đào sâu vào ý nghĩa của các hiện tượng tiêu cực. Đấy là sự kết hợp của sự mỉa mai với một tình yêu dành cho những người có một sự hiểu biết nghệ thuật về cái đẹp trong tất cả các hình thức của cuộc sống và là một đặc trưng trong các tác phẩm của ông. Đối với thơ ca, France cho rằng: “Thơ hay cũng giống như một sự ghép nối với những phần rung động trong bản thể của chúng ta. Không của riêng mình – ý nghĩ của ta buộc nhà thơ phải hát lên trong ta. Kể cho ta nghe về người phụ nữ mà nhà thơ yêu, đánh thức trong hồn ta tình yêu và nỗi khổ của ta. Nhà thơ là nhà ảo thuật. Hiểu được nhà thơ, chúng ta trở thành những nhà thơ như anh ta”. Và ông quan niệm: “Việc làm thơ gần với việc thờ cúng hơn là như ta tưởng”.

Anatole France qua đời ngày 13 tháng 10 năm 1924 và được chôn cất tại nghĩa trang Neuilly-sur-Seine gần Paris.

Tác phẩm:
*Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ
*Đám cưới ở Corinthe (Les Noces corinthiennes, 1876), kịch thơ
*Jocaste và con mèo gầy (Jocaste et Le Chat maigre, 1879), truyện
*Tội ác của Sylvestre Bonnard Le Crime de Sylvestre Bonnard, membre de l'Institut, 1881), tiểu thuyết
*Những khát vọng của Jean Servien (Les Désirs de Jean Servien, 1872-1882), tiểu thuyết
*Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký
*Balthasar (1889), truyện ngắn
*Đời sống văn học (La vie littéraire, 1888-1892), phê bình văn học, 4 tập
*Thaïs (1890) tiểu thuyết
*Chiếc rương xà cừ (L’Étui de nacre, 1892), tập truyện
*Cửa hàng thịt quay của nữ hoàng Pédauque (La Rôtisserie de la reine Pédauque, 1893), tiểu thuyết
*Những ý kiến của Jêrôme Coignard (Les Opinions de Jérôme Coignard, 1893), tiểu thuyết
*Bông huệ đỏ (Le Lys rouge, 1894), tiểu thuyết
*Vườn Epicure (Le Jardin d'Épicure, 1894), tập cách ngôn
*Cái giếng của Thánh nữ Claire (Le puits de Sainte Claire, 1895), tập truyện
*Pierre Nozière (1899), hồi kí
*Chuyện thời nay (L'histoire contemporaine, gồm 4 tiểu thuyết:
*Cây đu trên đường dạo chơi (L'Orme du mail, 1897),
*Hình người bằng cây liễu (Le Mannquin d'osier, 1897),
*Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'Anneau d'amethyste, 1899) và
*Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)
*Clio (1900), tập truyện
*Dư luận xã hội (Opinions sociales, 1902), tiểu luận
*Vụ việc Crainquebille (L'Affaire Crainquebille, 1901), truyện ngắn, năm 1903 chuyển thể thành vở kịch Crainquebille
*Nhà thờ và nền cộng hòa (L'église et la république, 1904), tiểu luận
*Crainquebille, Putois, Riquet và những câu chuyện có ích khác (Crainquebille, Putois Riquet et plusieurs autres récits profitables, 1904), tập truyện ngắn
*Trên phiến đá trắng (Sur la piere blanche, 1905), tiểu thuyết
*Hướng đến những thời tốt đẹp hơn (Ver les temps meilleurs, 1906), tiểu luận
*Đảo Pingouins  L'Île des Pingouins, 1908), tiểu thuyết
*Đời Jeanne d'Arc (Vie de Jeanne d'Arc, 1908), truyện danh nhân lịch sử
*Bảy người vợ của Râu Xanh (Les Sept Femmes de Barbe bleue et autres contes merveilleux, 1909), tập truyện
*Thần linh khát (Les Dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết
*Thần Latin (Le Génie latin, 1913), tiểu luận
*Thiên thần nổi loạn (La Révolte des anges, 1914), tiểu thuyết
*Trên đường vinh quang (Sur la voie glorieuse, 1915), tập tiểu luận
*Những người bị giết của chúng ta nói gì (Ce que disent nos morts, 1916), tập tiểu luận
*Pierre bé nhỏ (Le Petit Pierre, 1918), hồi ký
*Cuộc sống nở hoa (La Vie en fleur, 1922), hồi ký
*Đối thoại dưới hoa hồng (Les dialogues sous la rose, 1917-1924, in năm 1925), tiểu luận triết học




Một số bài thơ

CÂY
(Les arbres)

Cây nở hoa trong vẻ đẹp yên bình
Cho đồng ruộng và núi đồi sống động
Bao thế hệ cây màu xanh tĩnh lặng
Sống bằng mặt trời và những giọt sương.

Niềm đam mê sinh ở chốn trần gian
Vẫn khát khao hướng về nguồn ánh sáng
Mẹ thánh thiện đem tình yêu ban tặng
Cho các người, ấm áp tỏa mùi hương.

Các người tựa như khát vọng được sinh
Khát vọng nở hoa trong ngày thánh thiện
Dù ngày trước linh hồn mong nổi loạn
Từ hỗn mang hồn tìm thấy cho mình.

Trong giới hạn của vật chất lặng câm
Rễ các người cắm sâu vào lòng đất
Nhân lên cuộc đời xua đi cái chết
Giá trị cuộc đời còn đến muôn năm.




ƯỚC MONG
(Le désir) 

Ước mong nơi trần thế chỉ vô thường
Niềm khát khao lớn nhanh rồi tàn lụi
Người phụ nữ như hoa tàn lụi ấy
Còn giữ hồn ta cùng với mùi hương.

Đôi bàn tay mềm mại như đất kênh
Rất nhẹ nhàng quấn vòng tròn quanh cổ
Trước khi cái vòng dịu êm bị vỡ
Gợi cho ta niềm hạnh phúc lâng lâng.

Mái tóc đen chảy bồng bềnh như đêm
Vào sâu thẳm sang trọng và tăm tối
Liệu có ai có thể chìm mãi mãi
Vào cái chết và trong bóng của mình?

Lỗ mũi giống như đôi cánh rung lên
Trong niềm kiêu hãnh chứa đầy khinh miệt
Rằng tất cả đấy là lần sau chót
Rằng sự biệt ly đã đến rất gần.

Đôi bờ môi tựa như cánh hoa hồng
Lòng say đắm khi bờ môi khẽ chạm
Đó là vũ khí của đêm gợi cảm
Lửa cháy lên rồi hoa bỗng héo hon.

Hai đôi môi dường như đã dính liền
Nụ hôn dài dường như nhầm mục đích
Làm sao giữ ngọn lửa dường đã tắt
Khi tro tàn trên bờ ngực mong manh?


TÂM HỒN CỦA BÉ
(Âmes obscures) 

Trong thiên nhiên bất biến
Khi đứa bé vừa sinh
Thì ý thức trẻ con
Nhận ra điều bí hiểm.

Ánh mắt chưa cảm nhận
Nhìn mọi thứ quanh mình
Những gì mắt bé nhìn
Mang lại niềm vui lớn.

Thiên thần chưa nhận biết
Tiếng nước chảy rì rào
Bé chưa nói nhưng nghe
Đời trong thế giới khác.

Đôi mắt bé mở to
Đầy ước mơ kỳ lạ
Bé là thiên thần nhỏ
Trong thế giới cổ xưa.

Mái đầu nhẹ hân hoan
Ước mơ mang cho bé
Điều người lớn không thể
Thấy cuộc sống tưng bừng.



TIẾNG PHÁP NHƯ MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ
(La langue française est une femme)

Tiếng Pháp như một người phụ nữ
Người phụ nữ đẹp vô cùng
Người phụ nữ kiêu căng
Người phụ nữ khiêm tốn.

Người phụ nữ can đảm
Người làm ta mủi lòng
Người phụ nữ trắng trong
Và rất cao thượng.

Người phụ nữ thân quen
Người phụ nữ điên cuồng
Người phụ nữ khôn khéo
Mà ta yêu bằng tất cả tấm lòng
Và mãi thủy chung.


THÉRA*


Túi da dê này đựng rượu đầy căng

Nguồn nước sống làm từ nho chín mọng
Théra màu đen căng mình trên sóng
Dưới mặt trời vàng trên bọt biển xanh. 

Théra giờ không còn đào kim nương 

Và ngải đắng, sồi xanh không còn nữa
Từ ngày hiện những mạch nguồn nứt nẻ
Thì Diêm Vương đã phun lửa không ngừng. 

Vầng trán cau có nhuốm một màu hồng

Giữa đôi gò bồng đảo dòng suối nhỏ
Như những nữ thần Bacchante hoang dã
Với những chùm nho nguyên vẹn bên hông.   
___________
*Théra là tên cổ điển của đảo Santorini – một hòn đảo ở miền nam biển Aegea, cách Hy Lạp lục địa 200 km. Théra cổ điển với nghề nấu rượu nho ngon nổi tiếng.   
** Bacchante (hay Menades) – những người đồng hành và những người hâm mộ Dionysus, là vị thần của rượu nho. 

Xem thêm:


HUY CHƯƠNG NOBEL

Giải thưởng Nobel là một trong những giải thưởng Quốc tế uy tín nhất. Những người đoạt giải được công bố vào tuần thứ hai của tháng mười hàng năm. 

Alfred Nobel là nhà hóa học, kỹ sư và nhà phát minh. Phát minh nổi tiếng nhất của ông là thuốc nổ. Năm 1888, thay vì cáo phó về người anh là Ludvig Emmanuel Nobel qua đời, một tờ báo Pháp đã đăng bức ảnh của Alfred Bernhard Nobel với cáo phó tên là: “Người buôn bán tử thần đã qua đời”. Alfred Nobel tự hỏi mình sẽ giữ lại kỷ niệm nào cho đời. Sau đó, ông quyết định thay đổi di chúc đã viết trước đây. Gần một năm trước khi qua đời vào ngày 27 tháng 11 năm 1895, Alfred Nobel đã quyết định bán tất cả tài sản của mình và gửi vào một ngân hàng. Thu nhập từ vốn lẫn lãi của số tiền này phải thuộc về một Quỹ và sẽ phân phối chúng hàng năm dưới dạng tiền thưởng cho những người trong năm trước đã mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.

Theo Điều lệ của Quỹ Nobel ngày 29 tháng 6 năm 1900: “Các tổ chức trao giải thưởng Nobel phải cung cấp cho mỗi người đoạt giải thưởng tiền mặt, bằng chứng nhận và huy chương vàng có hình Alfred Nobel với dòng chữ tương ứng”.

Huy chương các giải thưởng về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa do nhà điêu khắc, thợ khắc người Thụy Điển Erik Lindberg thiết kế. Huy chương của giải thưởng hòa bình - do nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland thiết kế. Huy chương của giải Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.

Ở mặt trước của các huy chương về Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là chân dung của Alfred Nobel và năm sinh, năm mất của ông bằng chữ số La Mã - MDCCCXXXIII - MDCCCXCVI. Chân dung của Alfred Nobel ở các huy chương của giải Hòa bình và giải Kinh tế có chút khác biệt với nhau. Dòng chữ chính ở mặt sau của các huy chương giải Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” (Phát minh làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá), và hình ảnh thay đổi theo các biểu tượng của các tổ chức tương ứng trao giải thưởng Nobel. Ở mặt sau của huy chương giải Hòa bình có dòng chữ: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Ở mặt sau của huy chương giải Kinh tế không có trích dẫn nào cả. 


Các huy chương Nobel có thiết kế giống nhau kể từ năm 1902. Vậy thì tại sao không từ năm 1901, khi các giải thưởng đầu tiên được trao? Vào đầu năm 1901, nhà điêu khắc, thợ khắc tài năng người Thụy Điển Erik Lindberg được giao nhiệm vụ thiết kế các huy chương Nobel của Thụy Điển. Việc thiết kế huy chương của người Na Uy cho giải thưởng Hòa bình được giao cho nhà điêu khắc người Na Uy, ông Gustav Vigeland. Nhưng thiết kế mặt trái của huy chương Nobel Thụy Điển đã không được hoàn thành trước lễ trao giải đầu tiên vào năm 1901. Những người đoạt các giải Nobel năm 1901 đều nhận được một huy chương tạm thời - trên đó có khắc chân dung của Alfred Nobel - như một món quà lưu niệm cho đến khi huy chương thật hoàn thành. Huy chương thật đầu tiên được hoàn thành vào tháng 9 năm 1902. 

Trong những năm 1901-1902, Erik Lindbergh sống ở Paris. Ông chịu sự ảnh hưởng của các họa sĩ khắc Pháp thời kỳ đó. Bức chân dung của Nobel trên mặt trái của các huy chương Thụy Điển đã được hoàn thành đúng hạn vào tháng 10 năm 1901. Lý do của sự chậm trễ là các biểu tượng ở mặt sau của các huy chương cần được tất cả các tổ chức trao giải thưởng Nobel chấp thuận, nhưng một số mâu thuẫn nảy sinh ở đây. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, Erik Lindbergh quyết định quay trở lại Stockholm vào tháng 11 năm 1901 để trình bày ý tưởng của mình. Các đề xuất của ông sau đó đã được chấp nhận và cuối cùng ông đã làm khuôn thạch cao để đúc các huy chương nhưng đã không thể hoàn thành đúng thời hạn. 

Trên tất cả các huy chương Nobel Thụy Điển, tên của những người đoạt giải được khắc rõ ràng ở mặt sau, còn tên của những người đoạt giải giải Hòa bình và Kinh tế được khắc trên cạnh của huy chương và không mấy rõ ràng. Điều này tạo ra một số vấn đề nhất định cho những người đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1975 – đó là nhà kinh tế người Liên Xô Leonid Kantorovich và nhà kinh tế người Mỹ Tjalling Koopmans. Huy chương của họ bị trao nhầm ở Stockholm, sau lễ trao giải Nobel, những người đoạt giải trở về quê hương của họ với những huy chương sai tên. Vì điều này xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phải mất bốn năm nỗ lực ngoại giao để trao đổi huy chương giữa các chủ sở hữu.


Một câu chuyện thú vị khác đã xảy ra với các huy chương Nobel của ba người đoạt giải vật lý trong Thế chiến II: người Đức Max von Laue (1914), người Đức Do Thái James Franck (1925), và người Đan Mạch Niels Bohr (1922). Từ năm 1933, Viện Vật lý Lý thuyết của Giáo sư Bohr tại Copenhagen đã trở thành nơi ẩn náu cho các nhà vật lý người Đức gốc Do Thái. Max von Laue và James Frank đã để lại huy chương Nobel của họ ở đó để tránh bị chính quyền Đức tịch thu. Sau khi Đan Mạch bị chiếm đóng vào tháng 4 năm 1940, Bohr bắt đầu lo lắng về sự an toàn của các huy chương, theo hồi ký của nhà hóa học người Hungary gốc Do Thái George de Hevesy (giải Nobel hóa học năm 1943), người làm việc tại cùng viện. Ở Đức Quốc xã, việc chuyển vàng ra nước ngoài được coi là một hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Vì tên của những người đoạt giải đã được khắc trên các huy chương nên việc nhận ra chúng là không hề khó khăn và hậu quả của việc này là rất nghiêm trọng. Một trích dẫn từ hồi ký của George de Hevesy: “Tôi đã đề nghị giấu huy chương, nhưng Bohr không thích ý tưởng đó vì cho rằng người ta có thể tìm thấy chúng. Tôi quyết định đem làm hòa tan chúng. Trong khi lính Đức đang tuần tra dọc theo các đường phố Copenhagen, tôi đã kịp làm hòa tan các huy chương của James Frank và Max von Laue. Sau chiến tranh, Quỹ Nobel đã hào phóng trao tặng huy chương Nobel mới cho Laue và Frank”. Hevesy đã viết cho Laue sau chiến tranh rằng việc làm hòa tan các huy chương là khó khăn vì vàng là một kim loại cực kỳ không phản ứng. Lính Đức quốc xã đã chiếm viện Bohr và lục soát rất kỹ càng nhưng không tìm thấy gì. Các huy chương được làm tan chảy trong dung dịch vodka hoàng gia. Hevesy không đề cập đến huy chương Nobel của Niels Bohr. Nhưng các tài liệu Lưu trữ về Niels Bohr ở Copenhagen cho thấy huy chương của ông cũng như huy chương Nobel về Sinh lý học và Y khoa năm 1920 của August Krogh đã được tặng cho cuộc đấu giá tổ chức ngày 12 tháng 3 năm 1940 để ủng hộ Quỹ Cứu trợ Phần Lan. Các huy chương này được một người giấu tên mua lại và tặng cho Bảo tàng Lịch sử Đan Mạch, nơi chúng vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay. 


Mặt trước của các huy chương Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh lý học và Y khoa là giống nhau như đã nói ở trên. Mặt sau của huy chương Nobel Văn học mô tả một chàng trai trẻ ngồi dưới cây nguyệt quế, đang say mê lắng nghe và ghi lại bài hát của Nàng thơ. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Inventas vitam juvat excoluisse per artes”. (Sáng tạo làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua nghệ thuật khám phá). Nội dung này lấy ý tưởng từ hai câu thơ trong thiên sử thi Aeneid của Virgil (Khúc ca VI, dòng 662-663):

Quique pii vates et Phoebo digna locuti,
Inventas aut qui vitam excoluere per artis,
(Cho những ai trong số các nhà tiên tri nói rằng chỉ Phoebus là xứng đáng
Cho những ai tô điểm cho đời bằng cách tạo ra nghệ thuật cho người phàm).

Cũng cần nói rằng câu “Inventas vitam juvat excoluisse per artes” dịch ra tiếng Việt có thể dịch theo nghĩa đen hoặc bóng và cho từng lĩnh vực cũng cần phải dịch tương thích. Thí dụ từ “phát minh” dùng trong các lĩnh vực Vật lý, Hóa học hay Sinh lý học và Y khoa thì trong Văn học phải là “sáng tạo”… 
Phía dưới hình của Nàng thơ và chàng trai trẻ khắc tên người được trao giải và dòng chữ “ACAD. SUEC” (viết tắt của Viện Hàn lâm Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Văn học do Eric Lindbergh thiết kế. 


Mặt sau huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa mô tả Thiên tài Y học giữ cuốn sách mở trên đùi và hứng dòng nước chảy từ vách đá để làm dịu cơn khát của một cô gái bị bệnh. Dòng chữ trên huy chương Nobel Sinh lý học và Y khoa có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Y học và cô gái khắc tên người được giải và dòng chữ: “REG. UNIVERSITAS MED. CHIR. CAROL” (viết tắt của từ Hội đồng Nobel của Viện Karonlinska). Huy chương giải Nobel Sinh lý học và Y khoa do Eric Lindbergh thiết kế. 

Hình nghiêng của Alfred Nobel ở mặt trước của huy chương Nobel Hòa bình hơi khác so với chân dung của ông trên các huy chương khác. Trên mặt sau của huy chương này là ba người đàn ông đứng thành vòng tròn trong vòng tay anh em bè bạn. Dòng chữ trên huy chương có nội dung: “Pro pace et fraternitate gentium” (Vì hòa bình và tình huynh đệ). Dòng chữ “Prix Nobel de la Paix” (Giải Nobel Hòa bình), năm trao giải và tên của người đoạt giải được khắc trên cạnh của huy chương. Huy chương giải Nobel Hòa bình do Gustav Vigeland thiết kế.

Mặt sau huy chương Nobel Vật lý và Hóa học (giống hệt nhau) mô tả nữ thần Tự nhiên nổi lên từ đám mây cầm trên tay sừng dê hoa quả (Cornucopia) tượng trưng cho sự phong phú và giàu có. Đứng bên cạnh là Thiên tài Khoa học đang hé mở chiếc khăn choàng che đầu Nữ thần Tự nhiên. Dòng chữ trên Huy chương Nobel Vật lý và Hóa học có nội dung như trên Huy chương Nobel Văn học đã nói trên. Phía dưới hình của Thiên tài Khoa học và Nữ thần Tự nhiên là tên của người đoạt giải và dòng chữ: “REG. ACAD. SCIENT. SUEC” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương giải Nobel Vật lý và Nobel Hóa học do Eric Lindbergh thiết kế. 

Mặt trước của Huy chương Nobel Kinh tế khắc hình nghiêng của Alfred Nobel và hai chiếc sừng dê hoa quả (Cornucopia) chéo nhau ở phía bên dưới. Dòng chữ vòng quanh ghi: “Sveriges Riksbank till Alfred Nobels Minne 1968” (Ngân hàng Trung ương Thụy Điển tưởng nhớ Alfred Nobel). Trên mặt sau của Huy chương là biểu tượng của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển dưới dạng ngôi sao Bắc Đẩu, ba vương miện nhỏ và một lớn ở trên cùng. Dòng chữ trên mặt sau của huy chương có nội dung: “Kungliga Vetenskaps Akademien” (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển). Huy chương Nobel Kinh tế do Gunvor Svensson-Lundqvist thiết kế.

Erik Axel Karlfeldt - Giải Nobel Văn học năm 1931


Erik Axel Karlfeldt (20 tháng 7 năm 1864 – 8 tháng 4 năm 1931) – nhà thơ Thụy Điển được trao giải Nobel Văn học sau khi đã mất, vì khi còn sống ông từ chối, lấy cớ mình là thư ký thường trực của ủy ban giải thưởng Nobel và không nổi tiếng lắm ở nước ngoài. Karlfeldt là người đầu tiên trên thế giới từ chối nhận giải thưởng này. Cuối năm 1931, sau khi Karlfeldt mất, Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải Nobel Văn học cho ông bởi vì tuy không được biết đến nhiều ở nước ngoài nhưng ông được đánh giá rất cao ở Thụy Điển. Kể từ năm 1974, điều lệ của Quỹ Nobel mới quy định là không trao giải cho người đã mất. 

Tiểu sử
Erik Axel Karlfeldt sinh tại một làng quê ở Delekarlia, cha là chủ một trang trại. Thuở nhỏ ông học ở Karlbo, năm 1885 tốt nghiệp trung học, sau đó học Đại học Uppsala. Vì gia đình bị phá sản, ông phải đi dạy tư để kiếm tiền nên mãi đến năm 1902 mới tốt nghiệp đại học. Từ năm 1893 tới năm 1896 ông là thầy giáo tại các trường trung học tư thục Djursholm, trường giáo dục công dân Molkom, và có thời gian ngắn làm việc cho một tờ báo ở Stockholm; sau đó ông làm ở thư viện của Viện Hàn lâm Nông nghiệp.

Năm 1895 Karlfeldt cho ra đời tập thơ đầu tiên trong số sáu tập thơ của ông, Vildmarks- och kärleksvisor (Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu); tiếp đó là Fridolins visor och andra dikter (Những bài ca của Fridolin) và đặc biệt là Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim (Vườn hoan lạc của Fridolin), trong đó có bài thơ được coi là độc đáo nhất của Karlfeldt Dalmalningar utlagda pa rim (Bức họa của Dalmalningar), mô tả những bức tranh dân gian truyền thống lấy đề tài từ Kinh Thánh và các câu chuyện huyền thoại thường thấy trong các ngôi nhà nông dân Thụy Điển.

Năm 1904, Karlfeldt được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển. Từ năm 1905 ông là thành viên Ủy ban Nobel của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Năm 1912, ông trở thành thư ký thường trực của Ủy ban giải thưởng Nobel Văn học. Năm 1917 ông nhận bằng danh dự của Đại học Uppsala. Năm 1926 ông lấy một cô vợ trẻ hơn mình 20 tuổi, có hai con.
Thơ ông thường lấy đề tài từ thiên nhiên và đời sống nông thôn, đem lại những cảm xúc tươi vui hoặc những tình cảm sâu lắng cho người đọc. Karlfeldt làm thơ nhiều thể loại, ngôn ngữ thơ rất trau chuốt, theo phong cách cổ điển. Ông hầu như không viết văn xuôi, ngoại trừ một bản điếu văn đọc trong tang lễ nhà thơ Coustav Freding (Thụy Điển) và một bài phát biểu tại lễ trao giải Nobel cho nhà văn Mỹ Sinclair Lewis năm 1930.

Tác phẩm
-Vildmarks- och kärleksvisor (Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu, 1895), thơ
-Fridolins visor och andra dikter (Những bài ca của Fridolin, 1898), thơ
-Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim (Vườn hoan lạc của Fridolin, 1901), thơ
-Flora och Pomona (Flora và Pomona, 1906), thơ
-Flora och Bellona (Flora và Bellona, 1918), thơ
-Hosthorn (Tiếng kèn mùa thu, 1927), thơ

Một số bài thơ


DƯỚI TRĂNG

Sub luna amo.*
Cô dâu tôi màu tối
Cháy lên dưới hoàng hôn
Như ánh trăng tỏa sáng
Như hoa tỏa mùi hương
Trong đêm hè nóng bỏng
Như giọt sương mai chuyển
Từ sáng đến mờ dần.

Sub luna bibo.**
Bia của tôi màu tối
Bọt bia sáng ngời lên
Và dường như dưới đáy
Những  nụ cười, ý nghĩ
Đọng lại thật ngẫu nhiên
Còn trên chiếc cốc vại
Bay những chiếc lá vàng.

Sub luna canto.***
Bài hát tôi màu tối
Như sóng vỗ dạt dào
Như đổ vào đâu đó
Như bay lên trời cao
Dịu êm và vội vã
Trẻ trung và xưa cũ
Cứ thế nối đuôi nhau.

Sub luna vivo.****
Cuộc đời tôi màu tối
Tẻ nhạt và tầm thường
Buồn bã hay hân hoan
Tôi đều đem chia sẻ
Khoái lạc và đau khổ
Của kiếp sống trần gian
Cho mình – tôi nhận đủ.

Sub luna morior.*****
Mộ của tôi màu tối
Liệu có chờ có đợi
Độ sâu của đại dương
Yên lặng của vĩnh hằng
Hay tro bụi mãi mãi
Như nỗi buồn tê tái
Bay thơ thẩn trên đồng.
____
*Yêu dưới trăng; **Uống dưới trăng; ***Hát dưới trăng; ****Sống dưới trăng; *****Chết dưới trăng.

Sub luna


Sub luna amo.

    Mörk är min brud, 
brinner i bruna kvällar,
    dansar i månglitterskrud, 
doftar som nattglim
    under en kornblixtsky, 
svalkar som morgondaggen,
    växlar som nedan och ny.

Sub luna bibo.

    Mörkt är mitt öl, 
svartmältat korn dess kärna,
    skummet som månglittermjöl. 
Tankar och löjen
    sväva kring kannans rund, 
sväva som läderlappar,
    sväva som guldlöv i lund.

Sub luna canto.

    Mörk är min sång, 
suckar som vågor i vassen,
    rullar som bränningens gång, 
reser sig trotsig,
    sjunker tillbaka tung, 
ebbar sin tid och flödar,
    gammal och kvalfullt ung.

Sub luna vivo.

    Mörkt är mitt liv, 
ringa och vanligt i öden,
    sorger och tidsfördriv. 
Gärna jag delar
    tingens förgängliga lott, 
lycklig att lida och njuta
    jordelivets fulla mått.

Sub luna morior.

    Mörk är min grav. 
Giv mig åt namnlös torva
    eller åt vind och hav: 
vilan i mullen,
    eller ett skärat stoft, 
fladdrande som min längtan
    fladdrat mot månklara loft.


 

THẾ GIỚI VI MÔ

 

Tôi là đất, mát mẻ và chậm chạp
Dù trẻ trung nhưng mập mạp và cùn
Ánh sáng mùa thu chiếu giữa cõi lòng
Chiếc lá vàng cất lên lời “vĩnh biệt”.

Tôi là nước, giá băng và ẩm ướt
Vẻ rình rang như nước mắt mùa đông
Niềm vui mạnh mẽ nhưng cũng vội vàng
Trên những bàn có rượu và có thịt.

Tôi là không khí, nhẹ nhàng trong suốt
Mặc áo quần tươi đẹp của mùa xuân
Một năm tươi vui cùng với màu xanh
Rồi lớn lên, dù đổi thay thời tiết.

Tôi là lửa, cháy lên và khô khát
Như bầu trời dưới ánh nắng mặt trời
Và thấy ngạc nhiên vì một điều này:
Ánh mặt trời không thể nào đốt hết.

Mikrokosmos


Jag är av jorden, jag är sval och tung,

trögvulen, gammalstämd fast ganska ung.
Det står ett gulnat höstträd i min själ,
dess alla grenar susa som farväl. 

Jag är av vattnet, jag är kall och våt,

min stela flegma är som frusen gråt.
Min vinterglädje bullrar stark men bråd,
vid fulla bord med vin och villebråd.

Jag är av luften, jag är ljus och blid,

jag går som i beständig lådingstid.
Vad långa år försummat och försönt
står upp vid vädrens lekar friskt och grönt.

Jag är av elden, jag är torr och het

av sommarsol som ingen nedgång vet.
Väl må jag undra att hon ej förbränt

mig själv med alla mina element.


BÀI CA SAU MÙA THU HOẠCH


Fridolin* đang nhảy múa ở đây
Trên đồng ruộng này có bình rượu ngọt
Có nước trái cây ép và có mùi lúa mạch
Có giai điệu ngọt ngào của đồng ruộng mê say. 
Chàng giữ chặt viền áo trên cánh tay
Nhảy bên cô gái có đôi mắt hờ khép
Nàng đỏ mặt, nghiêng người rồi ép sát 
Vào ngực chàng như người thuốc phiện say. 

Fridolin đang nhảy múa ở đây

Chàng say sưa nhớ về bao ký ức
Xưa ông nội, cha mình cũng từng nhảy nhót
Dưới tiếng vĩ cầm buồn – giờ đến lượt con trai.
Nhưng trong đêm nay họ đã ngủ yên rồi
Bàn tay xưa kéo đàn giờ đã không còn nữa
Cuộc sống và thời gian – chỉ tiếng xào xạc lá
Nơi có tiếng thở dài và tiếng động vui thôi.

Nhưng mà Fridolin đang nhảy ở nơi này!

Con cháu của các người mạnh mẽ và uyển chuyển
Với những người nông dân khác chàng trò chuyện
Không chỉ tiếng của mình, mà xen cả tiếng Latinh.
Lưỡi hái của chàng gặt trên đồng đất của cha ông
Chàng cũng vui mừng khi đổ lúa đầy kho đựng lúa
Khi nâng thúng lúa lên, chàng đã đùa rất vui vẻ
Với cô gái nông dân mặt ửng đỏ giống chị Hằng. 
_________________
*Fridolin - khái quát hóa hình ảnh của một người nông dân, nhân vật trong nhiều bài thơ của Karlfeldt.


Sång efter skördeanden


Här dansar Fridolin,

han är full av det söta vin,
av sin vetåkers frukt, sina bärmarkers saft,
av den vinande valsmelodin.
Se, med livrockens väldiga skört på sin arm
hur han dansar var flicka på balen varm,
tills hon lutar -- lik vallmon på slokande skaft --
så lycksaligen matt mot hans barm.

Här dansar Fridolin,

han är full av minnenas vin.
Här hugsvalades far och farfar en gång
av den surrande bondviolin.
Men nu soven I, gamle, i högtidens natt,
och den hand, som gned strängarna då, är nu matt,
och ert liv samt er tid är en susande sång,
som har toner av sucksamt och glatt.

Men här dansar Fridolin!

Sen er son, han är stark, han är fin,
och han talar med bönder på böndernas sätt
men med lärde män på latin.
Och hans lie går skarp i er nyodlings gull,
och han fröjdas som I, när hans loge står full,
och han lyfter sin mö som en man av er ätt
högt mot höstmånens röda kastrull.




ĐẠI PHONG CẦM MÙA ĐÔNG


Thánh đường của người thấp và tối tăm
Trong ngày Lễ Các Thánh!
Bài thánh ca mùa hè ngừng lặng
Giữa tháp chuông.
Bầu trời đen xé tấm áo choàng
Và rừng thưa ra từng mảnh
Thánh lễ trong lời đêm vang vọng:
Tất cả đều cát bụi, phù vân. 

Nhưng rồi bình minh đã trùm màu xanh

Lên mặt đất mênh mông
Một thế giới vững bền màu trắng
Từ cát bụi, phù vân.
Băng giá buổi tối xây những mái vòm
Với cả dãy ống bạc ròng lấp lánh
Thánh đường dựng lên theo ý mùa đông
Từ phù vân, bụi bặm. 

Và bây giờ những chiếc lá lặng ngừng

Đồng cỏ bây giờ trở nên im lặng
Hoa cỏ từ lâu không còn lên tiếng
Và cây dẻ gai cũng đã héo hon.
Nhưng thông trên đồi và trong thung lũng
Vẫn vi vu hòa nhạc đại phong cầm
Đấy là Thánh Cecilia* thử giọng
Bằng những cơn bão tuyết của Giáng sinh.

Bãi cỏ bên thánh đường

Hôm nay phủ đầy hoa huệ trắng
Tiếng của kèn đồng vang vọng
Ôi, thiếu nữ hãy ngân lên
Giọng nam trầm trang trọng hãy thêm
Giờ ông vua đi lên sân thượng
Đầy run rẩy và tuyết đang rơi xuống
Từ hành lang thiên đường. 

Thần Aeolus** luôn chuẩn bị sẵn sàng

Kéo những chiếc ống bằng da thổi gió
Và chiếc hòm đựng gió cho ngày lễ
Chỉ chờ có dịp mở toang. 
Thế rồi dịp năm mới với mảnh trăng non
Phương bắc như chiếc sừng chì nặng trĩu
Theo bước chân những người Đạo sĩ
Thổi tù và của những kẻ chăn chiên. 

Hỡi đại phong cầm, ta đến thánh đường

Của người hết lần này lượt khác
Ta là người đang tìm học cách
Nghe theo tiếng của phong cầm
Học cách chọn chiều rộng mênh mông
Sự lặng ngừng và tiếng ngân đầy ắp
Đi qua mùa đông đến ngày Sa-bát***
Để tìm ra sự ngơi nghỉ cho mình. 

Trên dàn đồng ca của bóng tối phương đông

Cháy lên từng ngọn nến
Dải ngân hà như màn sương nóng bỏng
Thổi căng những cánh buồm.
Khi còn chưa ló dạng ánh bình minh
Như hơi thở của sao – nghe rõ ràng tiếng động
Kỳ diệu và trong suốt như là kính
Vang lên ở xung quanh. 

Đêm như trong thuở đa thần giáo xa xăm

Bao trùm trên mặt đất
Và chiếc hòm đựng gió mở toang
Những ngọn gió ngang tàng, gào thét
Như những cây sồi già lung lay rồi đổ gục
Như tạp âm của bão tuyết quay vòng
Như hợp âm với hợp âm
Vang lên trái ngược. 

Tôi lắng nghe trong buổi chiều tím ngát

Giữa băng giá rừng dương
Tiếng của đàn vĩ cầm réo rắt
Làm cho bóng tối lan tràn
Và tiếng bài ca Thánh lễ ngân vang
Và giọng của cây liễu vươn mình lấy sức
Và tôi nghe ra tiếng cây đàn hạc
Trong rượu của bình minh. 

Trên tuyết cứng, với bình minh hồng

Mẹ Maria đi đến
Và mẹ đem thu dọn
Váy áo với màu hoa rừng.
Và mẹ nói: “Hãy rời phong cầm
Giờ là lúc nghỉ ngơi lấy sức.
Còn dàn đồng ca sặc sỡ, đầy màu sắc
Hãy gửi về xứ của mẹ cho nhanh”. 
__________
* Cecilia (Xi-xi-li-a) – nữ thánh đồng trinh và tử vì đạo trong thế kỷ III. Giáo hội Công giáo từ thế kỷ XVI coi bà là vị Thánh quan thầy của các nhạc sĩ sáng tác nhạc.
** Aeolus – theo Homer (trong tác phẩm Odýsseia), là vị thần cai quản gió, cha của 6 con trai và 6 con gái làm nên 6 cặp vợ chồng sống hạnh phúc trong cung điện của cha mình. 
*** Ngày Sa-bát (sabbath) – ngày thứ bảy theo đạo Do thái, ngày chủ nhật theo đạo Công giáo, là ngày nghỉ ngơi và thờ phụng Chúa.



Vinterorgel


Ditt tempel är mörkt och lågt är dess valv,

Allhelgonadag!
Där slocknar sommarens hymn som ett skalv
av klämtande slag.
Sin mantel river den svarta sky,
och lundarnas bleknade trasor fly,
och natten mässar om allt som är dött,
allt hö, allt kött.

Det dagas ånyo, det klarnar så vitt,

det blånar så vasst.
Det växer en värld ur förgängelsens mitt,
en vit och fast.
I frostiga kvällar skönjs en arkad
med pipor av silver i glittrande rad
nu reser vintern sitt orgelhus
ur mörker och grus.

Nu höves ej lövens lösa lek,

ej susande äng.
För svag är den saviga bågen, för vek
är blomstersträng.
Men furan på höjd och granen i dal
de ljuda alltjämt som en sträv principal:
Cecilia stämmer sitt instrument
till Guds advent.

Nu ligger det stora tempeltun

som en liljevret.
Drag an registren, drag dov bordun,
drag gäll trumpet.
Stäm upp för din konung, du stämmornas mö!
Han kommer på gången, den flingor beströ,
och stilla ekar ett svävande svall
från himmelens hall.

Tungt trampar Eol, alltid beredd,

sin flåsande bälg
och håller väderkistan försedd
från helg till helg.
Där väntar nordan på nyårsny
att stöta i smattrande horn av bly
och östan att följa med herdesång
de vises gång.

Du höga orgverk, jag är en man

i din menighet
och samlar din mångfald, så gott jag kan,
till enighet.
Nu lär min ande din egen ton,
den fulla klangen, den djupa ron,
att jag må gå som på sabbatsfärd
i min vintervärld.

Från tidig skymning, då lamporna tänts

i östligt kor
och vintergatans valvsegel spänts
av flammande flor,
det susar ibland intill gryningens väkt,
som stjärnornas lugna andedräkt,
en enda ton, en glasigt klar
och underbar.

En fimbulnatt som i hedenhös

med bävan jag hör,
när svällaren öppnas och blästern går lös
ur flöjtverk och rör.
Det skallar basun som i håligt trä
av knäckta ekar som sjunka på knä,
och stämmor dansa i vild mixtur
som rykande ur.

Jag vill gå ut en violbrun kväll

bland isig björk
och höra den strykande violoncell
som sväller mörk;
och jag vill höra i fastlagskoral
det växande visslet av salcional,
den första vårliga eolin
i morgonens vin -

till dess Maria går skär av sol

på skarens glans
och fäster kring skogens mörka kjol
en hasselfrans
och säger: "Syster, det töar från kvist.
Nu vila, du vita organist!
Av musikanter ett brokigt band
styr upp mot vårt land."