Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

T. S. Eliot - 1948


Thomas Stearns Eliot (26 tháng 9 năm 1888 – 4 tháng 1 năm 1965) là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học Anh gốc Mỹ đoạt giải Nobel văn học năm 1948. Tác phẩm đầu tay: Bản tình ca của J. Alfred Prufrock (The Love Song of J. Alfred Prufrock, 1015) được coi là một kiệt tác của phong trào thơ hiện đại. Tiếp đến là những tác phẩm thơ được coi là quan trọng nhất trong thơ Anh ngữ: Đất hoang (The Waste Land, 1922), Ngày thứ Tư tro bụi (Ash Wednesday, 1930), Những kẻ rỗng tuếch (The Hollow Men, 1925), Bốn khúc tứ tấu (Four Quartets, 1945). Những tác phẩm quan trọng nhất của T. S. Eliot đều đã được dịch hoặc trích dịch ra tiếng Việt và đã in trong cuốn Các nhà thơ giải Nobel, Nxb Lao Động, Hà Nội 2006.

Tiểu sử:
Thomas Stearns Eliot sinh ra trong một gia đình tư bản Anh di cư sang Mỹ từ thế kỷ 17. Bố – Henry Ware Eliot là một doanh nhân thành đạt, mẹ – Charlotte Champe Stearns là người viết văn và làm thơ sùng đạo. Ông học triết học và ngôn ngữ ở đại học Harvard, sau đó học tiếp văn học và ngôn ngữ ở Đại học Sorbonne (Paris, Pháp), Đại học Marburg (Đức), Đại học Oxford (Anh). Từ năm 1914 thường xuyên sống ở Anh. Năm 1917, T. S. Eliot làm trợ lý giám đốc một tạp chí thuộc “phái hình tượng” - tờ Người vị kỷ (The Egoist). Tập thơ đầu tiên của ông là Prufrock và những bài thơ khác (1917) chịu ảnh hưởng rõ rệt của chủ nghĩa tượng trưng. T. S. Eliot viết phê bình văn học từ quan điểm thuần mỹ học, gạt bỏ xuống hàng thứ yếu những khía cạnh thuộc về tiểu sử của tác giả.

T. S. Eliot trở nên nổi tiếng như một nhà thơ ngay sau khi trường ca Đất hoang (1922) ra đời với sự giúp đỡ to lớn của E. Pound, trong đó ông đưa ra chuẩn đoán trạng thái tinh thần của Châu Âu sau Thế chiến I, cho thấy sự trống rỗng tâm hồn của cả một thế hệ. Hình thức ngắt đoạn của trường ca này, lần đầu xuất hiện trên tạp chí The Criterion do T. S. Eliot sáng lập, càng làm tăng thêm ấn tượng về sự mất định hướng của con người.

Tại Anh, ông làm việc cho nhà băng Lloyd, rồi làm giám đốc Nhà xuất bản Faber & Gweger (sau đổi thành Faber & Faber). Năm 1927, T. S. Eliot nhập quốc tịch Anh và cải sang Anh giáo. Năm sau ông viết tiểu luận Lanczenot Endrus đánh dấu bước ngoặt mang tính tôn giáo. Cùng với tập thơ xuất bản năm 1930 là Ngày thứ Tư tro bụi (Ash Wednesday), tư tưởng tôn giáo bắt đầu hiện diện thường xuyên trong tất cả các tác phẩm của ông. Vở kịch Vụ giết người trong nhà thờ (1935) đánh dấu bước khởi đầu công việc thực sự của ông trong lĩnh vực sân khấu. Những năm 1949-1959 ông cho ra đời một loạt các vở kịch.

Eliot là người cả đời luôn làm lại mình, bắt đầu lại, sáng tạo lại: từ người Mỹ làm thành người Anh, từ công dân nước cộng hòa thành công dân nước theo chế độ quân chủ lập hiến, từ người theo đạo Tin lành thành tín đồ Anh giáo, từ người theo đuổi cách sống tự do, phóng túng thành người theo đuổi chủ nghĩa khổ hạnh. Và ông không thả mình theo cảm hứng của thơ ca mà bắt thơ ca đi theo tư tưởng của mình. Đã từng có một thời vì Eliot mà thế giới thơ ca Anh-Mỹ có sự phân rẽ sâu sắc: 3/4 các nhà thơ chịu sự ảnh hưởng thơ hoặc lý thuyết thơ của Eliot, 1/4 còn lại nhất quyết phản đối thi pháp mà Eliot đưa ra. Tuy vậy, một cuộc cách mạng thi ca mới đã không xảy ra. Không xảy ra vì trong thơ ca Anh-Mỹ vai trò chủ đạo thuộc về thơ ca bác học, mà thơ ca bác học ủng hộ Eliot. Ông là nhà cách tân thi ca, mặc dù vẫn tự nhận là học trò của Ezra Pound (1885-1972) – người phát hiện và cổ vũ, khuyến khích nhiều nhà thơ, nhà văn, trong số họ có nhiều người rất nổi tiếng như James Joyce (1882-1941), Robert Frost (1874-1963), Ernet Hemingway (1899-1961). Vinh quang đến với Eliot kể từ sau chiến tranh thế giới I trong khuôn khổ của dòng văn học “thế hệ mất mát” (lost generation). Eliot viết về sự mất mát của văn minh phương Tây, của cả nhân loại nhưng ngay từ đầu vẫn quan niệm đấy là bi kịch của thế hệ mất mát…

Sáng tác của Eliot T. S. có thể chia làm ba giai đoạn: từ 1909-1920, viết những tác phẩm có khuynh hướng bài tư bản và tôn giáo. Đây là thời kì tìm kiếm hình thức thể hiện và chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng. Năm 1917 ông làm biên tập tạp chí Egoist. Những năm 20 là một giai đoạn mới trong sáng tác của ông với những tác phẩm tiêu biểu như Đất hoang (1922); Những kẻ rỗng tuyếch (1925). Tính qui mô, triết lý sâu sắc và cách thể hiện hình tượng thơ ca độc đáo đã cho phép Eliot trở thành một nhà cách tân có ảnh hưởng lớn nhất đối với văn học Anh-Mỹ những năm 20-30. Năm 1922 Eliot sáng lập tạp chí Criterion (xuất bản đến năm 1939). Tạp chí này chủ yếu đang tải những tác phẩm của Eliot và những tác giả khác gần gũi về quan điểm với ông. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 thế giới quan của Eliot có những thay đổi cơ bản. Cảm hứng phủ nhận và lo lắng được thay bằng cảm hứng tìm kiếm những giá trị đích thực. Tiêu biểu của thời kỳ này là những tác phẩm: Thứ Tư tro bụi (1930), Bốn khúc tứ tấu (1943). Trong các tác phẩm này Eliot sử dụng những phạm trù triết học (thời gian, nơi chốn, sự vô tận vv…) cùng với học thuyết của Anh giáo. Và cũng như hai giai đoạn trên, sáng tác thơ ca của ông gắn liền với hoạt động của một nhà lí luận, phê bình văn học, nhà triết học. 

Những năm 30 Eliot cố gắng thử nghiệm trong hoàn cảnh lịch sử mới một thể loại quen thuộc của thời đại Elizabeth là kịch thơ: Vụ giết người trong nhà thờ (1935), Bữa tiệc Cocktail (1950), tuy vậy, sự thành công không mấy đáng kể… Năm 1948 ông được trao tặng giải Nobel văn học với tư cách là một nhà thơ.

T. S. Eliot mất tại nhà riêng ở Kensington, London vì bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Theo nguyện vọng của ông, thi thể của ông được hỏa táng và tro cốt được đưa đến nhà thờ Thánh Michael và Tất cả Thiên thần (St Michael and All Angels) ở ngôi làng Somerset, nơi mà tổ tiên ông đã di cư sang Mỹ. Trên tấm bảng tưởng niệm có ghi câu thơ của ông: “Trong sự khởi đầu của tôi là sự kết thúc của tôi. Trong sự kết thúc của tôi là sự khởi đầu của tôi” (In my beginning is my end. In my end is my beginning).

Tác phẩm:
- Bản tình ca của J. Alfed Prufrock (The love song of J. Alfed Prufrock, 1911), thơ.
- Prufrock và những quan sát khác (Prufrock and other observation, 1917), thơ.
- Suy ngẫm về thơ tự do (Reflexions on vers libre, 1917), tiểu luận.
- Rừng thiêng (The sacred wood, 1920), phê bình.
- Đất hoang (The waste land, 1922), trường ca.
- Những kẻ rỗng tuếch (The hollow men, 1925), trường ca.
- Lanczenot Endrus (1928), tiểu luận.
- Ngày thứ tư tro bụi (Ash wednesday, 1930), thơ.
- Chức năng của thơ ca và chức năng của phê bình (The use of poetry and the use of criticism, 1933), tiểu luận.
- Đá tảng (The rock, 1934), thơ.
- Vụ giết người trong nhà thờ (Murder in the cathedral, 1935), kịch.
- Những tiểu luận cũ và mới (Essays ancient and modern, 1936), tiểu luận.
- Những chú mèo (Old possum's book of practical cats, 1939), thơ.
- Đoàn tụ gia đình (The family reunion, 1939), thơ.
- Bốn khúc tứ tấu (Four quartets, 1943), trường ca.
- Bữa tiệc cocktail (The cocktail party, 1949-1950), kịch.
- Ghi chép hướng tới việc định nghĩa về văn hóa (Notestowards the denfinition of the culture, 1950), tiểu luận.
- Thơ và kịch (Poems and plays, 1951), tiểu luận.
- Thư kí riêng (The confidence clerk, 1954), kịch.
- Về thơ và các nhà thơ (On poetry and poets, 1957), tiểu luận.
- Chính nhân khả kính (The elder statesman, 1959), kịch.





Những tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt


BẢN TÌNH CA CỦA J. ALFRED PRUFROCK(1)

S’io credesse che mia risposta fosse

A persona che mai tornasse al mondo,
Questa fiamma staria senza piu scosse.

Ma perciocche giammai di questo fondo

Non torno vivo alcun, s’i’odo il vero,
Senza tema d’infamia ti rispondo.

Nào, ta hãy lên đường, anh và em
Trong buổi chiều lặng lẽ, dịu êm
Như người bệnh đang nằm trên bàn mổ
Ta hãy đi theo từng con phố nhỏ
Nơi vỏ sò chất đống ngổn ngang
ở nơi đó những quán rượu rẻ tiền
Những phòng trọ cho những đêm không ngủ
Đường phố dẫn vào cuộc tranh chấp, cãi cọ
Dẫn ta đến tận nơi
Và cho em, một câu hỏi chết người
Em đừng hỏi rằng “điều gì thế”
Nào, ta hãy đi về nơi đó.

Trong phòng khách những người phụ nữ chuyện trò
Họ nói chuyện về Michelangelo(2).

Sương màu vàng kì cọ trên mặt kính
Khói màu vàng chạm vào trên mặt kính
Liếm vào mọi góc của buổi hoàng hôn
Bám vào những rãnh mương
Trải lên ống khói
Trên bậc thềm bay nhảy
Nhìn thấy buổi chiều tháng Mười dịu êm
Và ngôi nhà đang ngủ im lìm.

Rồi đây, sẽ đến một thời gian
Trên đường phố làn khói màu vàng
Sẽ chùi lên mặt kính
Rồi sẽ đến một thời gian
Đối mặt phải sẵn sàng
Thời giết chóc và tạo dựng
Thời cho lao động
Câu hỏi này bày trên đĩa của em
Thời cho em và cho anh
Thời của một trăm điều do dự
Một trăm cái nhìn ra và sửa chữa
Khi cầm lấy cốc trà.

Trong phòng khách những người phụ nữ chuyện trò
Họ nói chuyện về Michelangelo.

Quả là sẽ đến một thời gian
Khi ngạc nhiên rằng “Không lẽ ta đã dám?”
Còn thời gian bước xuống bậc thang
Thời gian rảo bước trên mái tóc anh
(Thiên hạ sẽ nói rằng: “Đầu hắn ta đã bạc!”)
Chiếc áo khoác của anh cổ cồn cứng nhắc
Chiếc ca-ra-vát của anh có hình dáng giản đơn
(Thiên hạ sẽ nói rằng: “Hắn đã yếu tay chân!”)
Chẳng lẽ anh đã dám
Làm cho vũ trụ này lo lắng?
Mỗi phút – là thời gian
Để quyết định, nghi ngờ hay lật ngược hoàn toàn.

Điều này anh đã biết từ xưa
Những buổi chiều, những buổi sớm, buổi trưa
Cuộc đời mình anh dùng thìa cà phê đo đếm
Anh nghe những giọng hát từ đâu xa lắm
Nơi mà người ta theo nhạc hát lên
Là bởi vì anh đã dám?

Những điều này từ lâu anh đã biết
Những đôi mắt gắn anh vào công thức
Dán nhãn gim trên tường
Anh nằm trong đó thở than
Và anh bắt đầu
Khạc nhổ từ đầu ghép hai mảnh ván
Chẳng lẽ là anh lại dám?

Và những bàn tay này anh đã biết từ xưa
Những bàn tay đeo vòng, trắng và trọc lóc
Dưới ánh sáng ngọn đèn, có màu nâu mái tóc
Mà cũng có thể là
Mùi nước hoa từ quần áo tỏa ra?
Những bàn tay khăn quàng đem quấn
Chẳng lẽ là anh lại dám?
Và làm sao anh có thể bắt đầu?
………………………………….

Buổi hoàng hôn anh thơ thẩn trên những đường phố nhỏ
Và nhìn khói toả ra từ những ngôi nhà
Của những người cô đơn cúi mình bên cửa sổ?..

Ôi giá mà anh là hai càng cua bờm xờm
Chạy trốn vào trong đáy biển lặng im!
…………………………………….

Và buổi chiều đi vào đêm rồi êm đềm ngủ
Những bàn tay ấp ủ
Mệt mỏi… ngủ say… hay chỉ giả vờ
Ngủ say sưa ở dưới chân ta.
Có thể, sau khi uống trà và ăn bánh ngọt
Không cần đi vào những miền không thể biết?
Nhưng anh đã khóc, ăn chay, đã khóc và nguyện cầu
Và anh nhìn thấy trên mặt đĩa phẳng mái đầu.
Anh không phải nhà tiên tri – và đây không phải là điều gì vĩ đại
Anh nhìn thấy một lần và trước mặt anh lửa cháy
Một Người hầu(3) mặc áo khoác của anh và khúc khích cười
Nói tóm lại là anh đã thôi.

Và liệu có cần gì cho anh, sau tất cả
Sau bánh ngọt, cốc trà, trong lặng lẽ
Nói một điều gì đó về em và anh
Liệu có cần thiết chăng?
Với nụ cười rũ bỏ điều cấm đoán
Ôm cả hoàn cầu trong lòng im lặng
Và xoay quả đất với câu hỏi chết người
Rằng: “Ta là Lazarus từ cõi chết trở về đây
Ta quay trở về để nói ra tất cả” –
Nếu ai đó cái gối trên đầu đã sửa
Và nói rằng: “Không phải thế đâu
Tất cả đều không phải thế”.

Thì anh có cần gì sau đó
Thì anh còn cần thêm gì nữa
Sau những buổi hoàng hôn, sân trước và những đường phố mưa giăng
Sau ấm chén, sách vở, váy áo rải trên sàn
Và điều này, và hơn thế nữa?
Anh cứ ngỡ rằng lời chẳng có
Nhưng giống như khuôn mẫu trên màn hình
Thì liệu có còn cần thiết cho anh
Nếu như ai đó sửa lại khăn và gối
Và quay nhìn vào cửa sổ rồi nói:
“Tất cả không phải thế đâu
Tất cả đều không phải thế”.
……………………………..

Không! Anh không phải là Hamlet và không thể trở thành
Anh chỉ là người hầu, những kẻ ở xung quanh
Là kẻ bị người ta đẩy ra sân khấu
Rồi khuyên bảo phải thế này thế nọ
Người được tôn kính và rất sẵn lòng
Người cẩn trọng và khôn ngoan
Người cao sang nhưng hơi đần một chút
Theo thời gian có lẽ thành lố bịch
Theo thời gian thành kẻ pha trò.

Anh ngày một già thêm
Có lẽ anh phải xắn quần lên.

Liệu anh còn được ăn quả đào? Còn chải tóc trên trán?
Còn đi ra biển mặc quần màu trắng.
Và anh nghe những nàng tiên cá hát vang lên.

Nhưng bài hát này không phải để cho anh.

Anh thấy những nàng tiên cá bơi trên sóng biển
Những con sóng vuốt ve làn tóc trắng
Khi ngọn gió rì rào trên mặt nước trắng và đen.

Ta lang thang trong xứ sở của tiên
Nghe giọng nói của người trần và ta nức nở
Giọng nói gọi ta trở về trần thế, và ta chìm.


_____________
(1)Eliot viết bài thơ này năm 1910, khi đang còn là sinh viên Đại học Harvard, viết xong năm 1911. Bốn năm sau đăng ở tạp chí Poetry (June 1915). Sau đó in trong tập thơ đầu tiên Prufrock and Other Observations (1917). Đề từ của bài thơ này trích từ Thần khúc của Dante:

Giá tôi biết rằng câu chuyện của mình
Nghe thấy được người còn quay trở lại
Thì ngọn lửa của tôi đã không run.

Nhưng bởi vì không còn đường trở lại
Tôi chưa từng nghe chuyện ấy bao giờ
Nên tôi trả lời, xấu hổ chi mà ngại.

(Thần khúc_Địa ngục, khúc ca XXVII, dòng 61-66)

Ý nghĩa của những dòng thơ này như sau: giá như nhân vật tin chắc rằng câu chuyện của anh ta có ai đó nghe được và sau này quay trở lại trần gian kể cho mọi người những điều đã nghe thì anh ta đã chẳng nói ra. Điều đó có nghĩa là Bản tình ca… của Eliot không ca lên cho tất cả cùng nghe. Đọc bài thơ đến hết ta sẽ hiểu ra rằng Prufrock không hề yêu ai cả - ít ra là trong trường hợp Bản tình ca… này, không yêu một người phụ nữ nào trong những lời độc thoại của mình. “Em và anh” ở đây là Prufrock tự nói với chính mình đấy thôi, còn những người phụ nữ thì chỉ chuyện trò về Michelangelo. Đây là bài ca tình yêu thời hiện đại của chàng sinh viên Đại học Harvard, nếu có thể gọi đấy là tình yêu.
Prufrock, một mặt nào đó cũng giống như Hamlet với “to be, or not to be”(nên hay không nên), rất thận trọng và lưỡng lự, chàng cứ sợ rằng sau lời tỏ tình của mình thì cả thế giới này sẽ sụp đổ. Mặt khác, không biết liệu có nên làm cho thế gian phiền muộn hay không, nếu như đằng nào thì người đời cũng không nghe, không hiểu mình? Và, ngay cả nếu được như Lazarus (La-xa-rơ: Tân Ước_Giăng11: 43,44) từ cõi chết trở về muốn kể lại những điều về cuộc sống, cái chết thì cũng chẳng ai thèm nghe: những người phụ nữ trong phòng khách kia chỉ quan tâm những điều mà họ muốn nói. Thì khi ấy mong ước được trở thành “hai càng cua bờm xờm/ chạy trốn vào trong đáy biển lặng im…” Chủ đề của Bản tình ca… là không yêu được. Từ không yêu được đến không sống được cũng chẳng xa xôi gì, bởi thế ở đoạn cuối ta thấy xuất hiện các nàng tiên cá (các nàng tiên cá tượng trưng cho vẻ đẹp chết người, vẻ quyến rũ của phụ nữ) và bài thơ kết thúc bằng lời “ta chìm” (we drown).

(2)Michelangelo Buonarroti (1475-1564) – nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thơ Italia thời Phục hưng.

(3)Người hầu (the eternal Footman) – ở đây có nghĩa là cái chết, luôn luôn chuẩn bị bộ quần áo cuối cùng cho con người - áo quan.


ĐẤT HOANG

"Nam Sibyllam quidem Cumis ego ipse
oculis meis vidi in ampulla pendere, et cum
illi pueri dicerent: Σίβυλλα τί θέλεις;
respondebat ilia: άποθανείν θελω".
(Tôi từng nhìn thấy Xibila ở Cumai ngồi trong chai.
Khi bọn trẻ hỏi: “Bà muốn gì, Xibila?”
Xibila trả lời: “Muốn chết” (tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp cổ).

Tặng Ezra Pound
il miglior fabbro.
(bậc thầy cao hơn tôi (tiếng Italia)(1).


I. Lễ mai táng người chết

Tháng tư là tháng khắc nghiệt, gây ra
Màu tím tử đinh hương của đất, rồi hòa
Ký ức với ước mong, và gây xúc động
Nguồn cội mơ màng bằng mưa xuân trút xuống.
Mùa đông sưởi ấm lòng ta
Chở che mặt đất bằng tuyết dày quên lãng
Nuôi cuộc đời bằng những cọng cây khô.
Mùa hè đến bất chợt trên hồ Starnbergersee(2)
Với những cơn mưa, chúng em dừng chân bên dãy cột to
Sau đó đi về Hofgarten trong ánh nắng
Chúng em uống cà phê và suốt cả giờ trò chuyện.
Bin gar keine Russin, stamm’ aus Litauen, echt deutsch.
(Em không phải người Nga, sinh ở Lít-va, là người Đức chính cống)
Ngày còn bé chúng em thường đến chơi với người anh
Hoàng tử Áo – anh ấy rủ em đi xe trượt tuyết
Thấy em sợ hãi thì anh ấy động viên:
Marie, em giữ cho chắc vào. Ta bắt đầu đầu trượt.
Giữa núi đồi sẽ thanh thoát nhẹ nhàng.
Em đọc sách ban đêm và đi về phương Nam mùa đông.

Rễ nào bám vào, cành nào mọc lên
Từ đá vỡ này? Con người trần(3)
Không thể nói ra, ước chừng, vì chỉ biết
Một đống hình vỡ, nơi ánh mặt trời đập
Cây chết không cho bóng, cào cào chẳng làm khuây(4)
Đá khô không có nước, mà chỉ có ở đây
Chiếc bóng của loài đá đỏ(5)
(Hãy đứng dưới bóng của loài đá đó)
Và em sẽ chỉ cho anh một cái gì đó
Không như cái bóng người buổi sáng ở sau lưng
Hay cái bóng buổi chiều ở trước mặt anh
Em sẽ chỉ ra trong một nắm tro tàn sợ hãi.
Frisch weht der Wind(6)
Der Heimat zu.
Mein Irsch Kind
Wo weilest du?
(Mát lành cơn gió thổi
Gió thổi về quê hương.
Em nơi mô chờ đợi
Hở cô bé Ai-len?)
“Năm ngoái người trao em hyacinths(7) lần đầu tiên
Người ta gọi em là lan dạ hương thiếu nữ”.
– Nhưng khi ta trở về từ vườn Hyacinth đó
Tay em đầy hoa và mái tóc đầy sương
Anh không nói nên lời, đôi mắt anh mơ màng
Dở sống, dở chết, anh không biết gì hết cả
Anh nhìn vào con tim ánh sáng – và lặng lẽ
Od’ und leer das Meer(8).
(Biển hoang vu, vời vợi, triền miên).

Bà Sosostris(9) nhìn thấu được cả những cái vô hình
Dù bà có bị cảm lạnh nhưng mà vẫn
Nổi tiếng khắp châu Âu là người đoán đúng
Với một cỗ bài. Bà nói: con bài của anh kia
Người thủy thủ bị chìm của xứ Phê-ni-xi(10).
(Hãy xem kìa: đôi mắt như ngọc châu lấp lóa)
Còn đây là Belladonna(11), bà chúa tể của bao vách đá
Bà chủ của những tình thế nọ kia.
Người đàn ông với ba cây gậy, và đây bánh xe
Còn đây là nhà thương gia một mắt
Quân này trống, có vật gì trên lưng được đặt
Thì ta chẳng nhìn ra. Không nhận ra
Người treo cổ. Hãy coi chừng chết đuối.
Ta thấy một đoàn người đi quanh vòng ấy.
Cám ơn. Nếu anh nhìn thấy ngài Equitone(12)
Thì nói rằng lá số ta mang đến cho ông
Thời buổi này hãy nhớ dè chừng, cẩn thận.

Thành phố có vẻ như trong tưởng tượng
Dưới làn sương mù của buổi sáng mùa đông
Người ta chen chúc nhau trên cầu Luân Đôn
Tôi đã không nghĩ rằng thần chết bắt nhiều người ghê gớm(13).
Những tiếng thở dài trong không trung hiếm hoi và ngắn(14)
Và mỗi người đều đưa mắt nhìn xuống bàn chân.
Đi lên đồi và đi xuống phố King William(15)
Nơi đồng hồ chuông Saint Mary Woolnoth buông xuống
Âm thanh chết của giờ thứ chín.
Tôi nhìn thấy một người quen và tôi gọi: “Stetson!
Có phải ta đã cùng chiến đấu trên tàu ở Mylae(16) không?
Cái xác mà anh chôn ở trong vườn năm ngoái
Có xanh tốt? Có nở hoa, kết trái?
Có sống qua được băng giá của đời?
Hãy tránh xa chó, chó không hẳn là bạn của người
Kẻo nó dùng móng chân của mình đào bới lại!(17)
Anh! Hypocrite lecteur! – mon semblable, – mon frere!”(18)
(Anh! Bạn đọc đạo đức giả! – người giống tôi, – người anh em của tôi!)


___________
Trường ca “Đất hoang” in lần đầu ở tạp chí Criterion (London) tháng 10 – 1922. “Đất hoang” là biểu tượng của châu Âu sau chiến tranh thế giới I, khủng hoảng tinh thần, thiếu lòng tin… Tuy vậy ẩn ý của trường ca là những cuộc truy tìm chiếc Chén Thần (Holy Grail), chiếc chén mà Chúa Giê-su đã uống trong bữa ăn cuối cùng. Eliot lên hệ với truyền thuyết trong tác phẩm “Cành vàng” của J. Fraser. Vua Cá (Fisher King – biểu tượng của cuộc sống) bị làm bùa phép và bị giết, mặt đất trở thành đất hoang. Chàng hoàng tử Perceval (Percyvelle) giải thoát được cho nhà vua bằng cách vượt qua nhiều thử thách tìm đến Nhà Nguyện để nhận biết những nghi lễ của Chén Thần… Eliot thường xuyên so sánh, đối chiếu hiện tại với quá khứ.
Trường ca có 5 phần. Chúng tôi trích dịch phần I – là phần nổi tiếng nhất, thường được đưa vào các tuyển tập. Trong các tác phẩm của mình, Eliot dùng tiếng Anh xen lẫn với tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Italia, tiếng Hy Lạp cổ… Trung thành với nguyên tác chúng tôi dịch phần tiếng Anh còn các ngôn ngữ khác để nguyên như trong nguyên tác và thêm phần tiếng Việt trong dấu mở, đóng ngoặc.

(1)Đề từ của trường ca lấy từ tác phẩm Satyricon (chương 48) của nhà văn La Mã Arbite (Gaius) Petronius (? – 66). Xibila ở Cumai (the Cumaean sibyl) xin thần Apollo cho một cuộc sống vĩnh cửu nhưng quên xin một tuổi trẻ vĩnh cửu. Cơ thể của Xibila nhăn nheo, teo tóp bỏ được vào trong chai. Trong “Đất hoang” Xibila trở thành bà Sosostris, là người giống như nhà tiên tri mù Tiresias trong thần thoại Hy Lạp. Theo thần thoại Hy Lạp, Tiresias biến thành phụ nữ trong bảy năm rồi lại trở về làm đàn ông, sau đó trở thành người trọng tài trong cuộc tranh luận giữa các vị thần (Zeus và Hera): Ai là người nhận được nhiều hơn khoái cảm của tình yêu – đàn ông hay phụ nữ? Khoái cảm của phụ nữ mạnh hơn khoái cảm của đàn ông gấp chín lần – kết luận của Tiresias. Vì điều kết luận này mà nữ thần Hera tức giận, đã làm cho Tiresias trở thành mù nhưng được thần Zeus ban cho một cuộc sống trường thọ.

Bậc thầy cao hơn tôi (il migllior fabbro) – đây là câu trả lời của Guido Guinizelli nói về A. Daniel trong những lời trò chuyện với Dante. (Dante. Tĩnh ngục, XXVI, 112-118).


(2)Starnbergersee – hồ nước ở gần Munchen (Munich). Hofgarten là tên một công viên.

(3)Xem: Cựu ước_Ê-xê-chi-ên 2:1 (chú thích của Eliot): Hỡi con người, chân ngươi hãy đứng, ta sẽ phán cùng ngươi. ở chương 37:3 Chúa hỏi Ê-xê-chi-ên: Hỡi con người, những hài cốt này có thể sống chăng? Và Ê-xê-chi-ên trả lời: Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều đó!

(4)Xem: Cựu ước_Truyền đạo 12:5 (chú thích của Eliot), nơi người truyền đạo nói về những ngày gian nan, khó nhọc:

Lúc ấy người ta sợ hãi lên cao
Đi trên đường sẽ vô cùng khiếp sợ
Và sẽ trổ bông những khóm hạnh đào
Cào cào nặng, ước ao không còn nữa.

(5)Xem: Cựu ước_Ê-sai 32:2: Sẽ có một người như nơi núp gió và chỗ che bão táp, như suối nước trong nơi đất khô, như bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi.

(6)Mát lành cơn gió thổi... lời thơ trích từ vở nhạc kịch câu chuyện tình “Tristan und Isolt” (Trixtăng và Iđơn, tiếng Đức) của Richard Wagne (1813-1883).

(7)Hyacinth – theo thần thoại Hy Lạp là một chàng trai trẻ đẹp. Sau khi Hyacinth chết thần Apollo lấy xác của hyacinth gieo thành loài hoa lan dạ hương.

(8)Biển hoang vu… tiếng kêu của người đầy tớ mà vua Mác sai đi nhìn ra biển xem có thấy con tàu chở Iđơn.

(9)Thầy bói có tên một Pharaon Ai Cập, Eliot lấy từ một bi kịch của A. Huxley.

(10)Xứ Phê-ni-xi (Phoenicia) – quốc gia cổ đại ở vùng biển Địa Trung Hải.

(11) Belladonna – tên Italia của một quân bài.

(12) Equitone – cũng là tên một trong các quân bài.

(13)Xem: Dante. Địa ngục, III, 55-57 (chú thích của Eliot):
Cuốn theo sau một đoàn người dằng dặc
Đông đến mức tôi không thể nào tin được
Rằng thần chết đã nhanh tay như thế!
(Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).

(14)Xem: Dante. Địa ngục, IV, 25-27 (chú thích của Eliot):
Ở đó những gì mà tôi nghe được
Không phải tiếng kêu van mà là tiếng thở dài
Làm xáo động cả bầu không khí.
(Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).

(15)Đồng hồ chuông của nhà thờ Saint Mary Woolnoth trên phố King William là nơi Eliot thường qua lại khi sống ở Luân Đôn. Để đi đến khu trung tâm tài chính của Luân Đôn (City) cần đi qua cầu Luân Đôn sang bờ bên kia của sông Thames.

(16)Trận đánh Mylae (Battle of Mylae) trong chiến tranh Punic giữa người Roma và người Carthaganian năm 260 – 146 tr. CN.

(17)Eliot dẫn John Webster (1580-1625), tác giả của bi kịch “Con quỉ trắng” (The White Devil, 1612) “Hãy đuổi chó sói/ Kẻ thù của con người/ Để nó không dùng móng chân đào xác chết”. Đây là tiếng khóc của một phụ nữ có đứa con trai đã giết người anh em của mình rồi đào mồ chôn người anh em bị giết.

(18)Đây là một câu trong “Những bông hoa ác” (Les fleurs du mal) của Charles Baudelaire (1821- 1867).


  

NHỮNG KẺ RỖNG TUYẾCH

Mistah Kurtz – he dead
Ngài Kurtz đã chết

A Penny for the Old Guy
Xin một hào cho Guy già


I
Ta là những người trống rỗng
Ta là những hình nộm
Ta cúi xuống cùng nhau
Rơm xào xạc trên đầu
Giọng ta khô, nức nở
Khi cùng nhau to nhỏ
Lặng lẽ và hững hờ
Như gió trong cỏ khô
Như chuột trên kính vỡ
Trong hầm rượu cạn khô.

Hình thiếu nét, bóng thiếu màu
Sức lực đờ ra, cử chỉ không cử động

Những đôi mắt của ai nhìn thẳng
Từ Vương quốc cái chết khác đang nhìn
Nhắc ta, không như những kẻ vô hồn
Những tâm hồn sôi động, nhưng
Chỉ như những người trống rỗng
Như những hình nộm bằng rơm.

II
Những đôi mắt tôi sợ gặp trong mơ
Nhưng trong vương quốc mơ màng cái chết
Những đôi mắt không có bao giờ
Những đôi mắt này
Trên cột gãy là ánh mặt trời
Là cành cây nhún nhảy
Và giọng nói
Trong ngọn gió hát lên
Xa cách và trang nghiêm
Hơn những ngôi sao dần tắt.

Hãy cho tôi đến gần
Vương quốc mơ màng cái chết
Hãy cho tôi được mặc
Quần áo cải trang
áo khoác của chuột, lông của quạ khoang
Đứng trên đồi như ngọn gió
Gió đi đâu, tôi đi đó
Nhưng đừng để đến gần –

Lần cuối cùng gặp gỡ
Trong vương quốc của hoàng hôn.

III
Đấy là quê hương cái chết
Đấy là xứ sở của xương rồng
Nơi này những pho tượng đá
Và những cánh tay vật vã
Của những người chết van xin
Trong ánh sáng của ngôi sao tắt dần.

Có phải vậy chăng
Trong vương quốc cái chết khác
Khi thức dậy một mình
Và trong giờ khắc
Ta run lên với sự dịu dàng
Những bờ môi chờ hôn môi khác
Và nguyện cầu cho đá vỡ tan.

IV
Những đôi mắt không ở đây
Những đôi mắt không có ở nơi này
Trong thung lũng những ngôi sao đã chết
Trong thung lũng này rỗng tuyếch
Đã gãy quai hàm những vương quốc đã mất của ta

Ở nơi của lần gặp gỡ cuối cùng
Ta cùng nhau mò mẫm
Và nói năng cùng nhau ta tránh
Trên bờ sông có dòng nước sưng lên

Không nhìn ra cho đến một khi mà
Những đôi mắt chưa hiện
Như ngôi sao muôn đời tỏa sáng
Như muôn ngàn cánh hoa hồng
Của vương quốc cái chết hoàng hôn
Và chỉ đấy là niềm hy vọng
Dành cho những người trống rỗng.

V
Ta đi vòng quanh những bụi cây gai
Những bụi cây gai những bụi cây gai
Ta đi vòng quanh những bụi cây gai
Vào lúc năm giờ sáng.

Giữa ý tưởng
Và hiện thực cuộc đời
Giữa ý muốn
Và hành động con người
Chiếc bóng kia đổ xuống
Bởi Vương quốc là Ngài

Giữa quan niệm
Và sự dựng xây
Giữa mối xúc động
Và câu trả lời
Chiếc bóng kia đổ xuống
Cuộc đời ta rất dài

Giữa niềm ước mong
Và sự rung cảm
Giữa khả năng
Và sự sống
Giữa hiện tượng
Và bản chất của đời
Chiếc bóng kia đổ xuống
Bởi Vương quốc là Ngài

Bởi Vương quốc là Ngài
Là Cuộc sống
Bởi Vương quốc là Ngài và

Và như thế kết thúc cuộc đời
Và như thế kết thúc cuộc đời
Và như thế kết thúc cuộc đời
Bằng tiếng nấc chứ không bằng đập mạnh.
____________

(1)Trường ca Những kẻ rỗng tuyếch in đầy đủ lần đầu vào năm 1925 nhưng trước đó, 4 trong số 5 phần đã in riêng lẻ từng phần trong tạp chí Criterion. Bởi thế khi đi giải thích trường ca này có những khó khăn vì một điều rằng: Eliot đem tập hợp thành một trường ca từ những bài thơ lẻ trước đó được tư duy một cách độc lập.

“Những kẻ rỗng tuyếch” là cách Eliot gọi những trí thức châu Âu thời đó. Vì đánh mất lòng tin nên trong tâm hồn họ có một khoảng trống được lấp bằng những chính kiến rất ngẫu nhiên. Bởi thế, những người này vừa rỗng tuyếch (hollow), vừa là hình nộm (stuffed) được kết bằng rơm rác…


Đề từ thứ nhất của trường ca là câu trích từ tiểu thuyết Con tim bóng tối (The Heart of Darkness, 1902) của Joseph Conrad (1857-1924) nói về sự đánh mất lòng tin. “Mistah Kurtz – he dead” là lời cô người hầu da đen nói tiếng Anh còn chưa sõi, thông báo về cái chết của ngài Kurtz da trắng, người mà một bộ tộc da đen ở Công-gô coi như một vị thánh. Nhưng nếu như ngài đã chết thì có nghĩa là ngài không phải thánh thần.


Đề từ thứ hai xuất phát từ một tục lệ truyền thống – hàng năm cứ vào mồng 5 tháng 11 người ta đốt hình nộm Guy Fox, kẻ cầm đầu vụ mưu dùng thuốc nổ phá toà nhà Quốc hội Anh năm 1605. Tối mồng 4 sang ngày mồng 5 trẻ con mang hình nộm Guy Fox đến từng nhà “xin một hào cho Guy già”, sau đó đem đốt hình nộm và tổ chức đốt pháo hoa.


Điểm khó hiểu thứ nhất của trường ca này là khái niệm “vương quốc cái chết” (death’s kingdom). Khái niệm này Eliot sử dụng trong trường ca theo 5 dạng. Vì rằng sự đánh mất lòng tin nghĩa là không còn tin vào sự bất tử nên “những kẻ rỗng tuyếch” đang sống trong “vương quốc cái chết”. Nhưng trong vương quốc cái chết này người ta vẫn mơ ước, vẫn thấy những giấc mơ nên mới có “vương quốc mơ màng cái chết” (death’s dream kingdom). Những kẻ rỗng tuyếch này, đa số là sống trong vương quốc ảo nhưng trong số họ vẫn có những người sẵn sàng từ bỏ nó để đi về vương quốc khác (giống như tĩnh ngục) để tẩy rửa và chuộc lỗi lầm. Những người này đang ở trong “vương quốc cái chết hoàng hôn” (death’s twilight kingdom). Như vậy, đã có 3 dạng của vương quốc cái chết. Ngoài vương quốc cái chết ở trần gian còn có một vương quốc cái chết ở bên kia thế giới nữa, nên có thêm một khái niệm: “vương quốc cái chết khác” (death’s other kingdom). Và cuối cùng, để phân biệt “vương quốc cái chết khác” này với một vương quốc cũng ở bên kia thế giới dành cho những kẻ ngoan đạo (giống như thiên đường), Eliot viết hoa chữ “Kingdom” – “death’s other Kingdom”. Đấy là 5 cách gọi một khái niệm “vương quốc cái chết” của Eliot.


Điểm khó hiểu thứ hai trong trường ca này là hình ảnh những đôi mắt. Những đôi mắt xuất hiện từ phần II của trường ca, và nhân vật vừa muốn được nhìn thấy những đôi mắt lại vừa sợ nhìn thấy chúng. Nhân vật muốn mặc quần áo cải trang để cho những đôi mắt kia không nhận ra. Hình tượng này Eliot mượn của Dante (Thần khúc_Tĩnh ngục, khúc ca XXXI). Không nhìn thấy đôi mắt của Beatrice thì không thể từ giã Tĩnh ngục để bước lên Thiên đường (Đôi mắt Beatrice tượng trưng cho Trí tuệ của Chúa).


Điểm khó hiểu thứ ba là hình tượng chiếc bóng đổ xuống “giữa ý tưởng/ và hiện thực cuộc đời/ giữa ý muốn/ và hành động con người…” Chiếc bóng là biểu tượng của tính nhu nhược, thiếu quyết đoán của “những kẻ rỗng tuyếch”.


- Câu: “Bởi Vương quốc là Ngài” (For Thine is the Kingdom) trích từ lời cầu nguyện “Cha của chúng con” (lời Đức Chúa Giê-su trong bài giảng trên núi): “Bởi Ngài là Vương quốc, là quyền lực, là vinh quang muôn thuở. Amen!”(Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. Amen! – lời dịch của Hội Thánh Kinh tại Việt Nam. Tân Ước_Ma-thi-ơ 6:13). Chỉ có đôi mắt của tình yêu, đôi mắt của Beatrice có thể trả về nhãn quan cho “những kẻ rỗng tuyếch”. Những đôi mắt này là ngôi sao dẫn đường, là hoa hồng thần bí “là ngôi sao muôn đời tỏa sáng/ là muôn ngàn cánh hoa hồng/ của vương quốc cái chết hoàng hôn…” (muôn ngàn cánh hoa hồng là những thánh thần, những người ngoan đạo mà Dante nhìn thấy ở Thiên đường (Thần khúc_Thiên đường, khúc ca XXX, XXXIII).


- Câu: “Cuộc đời ta rất dài” (Life is very long) trích từ tiểu thuyết Kẻ lưu đày của những hòn đảo (An Outcast of the Islands) của J. Conrad.


- Câu: “Ta đi vòng quanh những bụi cây gai”(Here we go round the prickly pear) – nhại theo bài hát thiếu nhi “Here we go round the mulberry bush on a cold frosty morning”. Cây xương rồng tượng trưng cho vùng đất khô cằn.


- Điệp khúc: “Và như thế kết thúc cuộc đời” (This is a way the world ends) – nhại theo bài hát thiếu nhi “This is the Way we Clap our Hands”.



CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA CÁC ĐẠO SĨ(1)

“Ta đi trong băng giá
Mùa xấu nhất trong năm
Đằng đẵng cuộc hành trình
Con đường dài và gió
Buốt giá của mùa đông”(2).

Và những con lạc đà trầy da chân
Lì lợm nằm trên tuyết.
Còn ta, đôi khi cảm thấy buồn
Nhớ những cung điện mùa hè, sân gác
Những cô gái mượt mà mang ra đồ ngọt
Những kẻ cai lạc đà lời tục tĩu tuôn ra
Họ chạy đi đòi rượu và đàn bà
Và tắt lửa nhưng lều riêng không đủ
Và thù địch ở những thành phố to, không cảm tình ở những thành phố nhỏ
Những ngôi làng bẩn thỉu và giá cả rất cao
Trong thời buổi khó khăn như vậy ta đi vào.
Cuối cùng ta đã đi thâu đêm suốt sáng
Ngủ ngáy chỉ đôi khi, thỉnh thoảng
Và ta nghe những giọng hát bên tai
Tất cả chỉ là điên rồ, cuồng loạn.

Rồi buổi bình minh ta đến miền thung lũng
Nơi dưới tuyết mùi hoa cỏ bốc lên
Dòng suối rì rào, cối xay nước gõ nhịp vào bóng đêm
Và dưới bầu trời thấp có ba cây gỗ(3)
Và con ngựa bạch phóng nhanh trên đồng cỏ(4).
Ta đến bên quán rượu có treo những cành nho
Sáu cánh tay mở cửa ném những miếng bạc ra
Bàn chân giẫm lên túi da đựng rượu nhưng đã hết
Nhưng không ai biết gì và ta đi tiếp
Rồi ta đến nơi vào buổi chiều, không một chút sớm hơn
Rất tốt đẹp, như dự định mà ta cần.

Đã từ rất lâu, bây giờ tôi nhớ lại
Nhưng có một điều, giá mà tôi được hỏi
Giả sử là
Một điều này: những con đường của ta
Vì Sinh hay Tử? Đã từng là Sinh, hẳn thế
Ta đã biết điều này. Tôi đã từng thấy cả Sinh và Tử
Nhưng mà chúng khác nhau, đó chính là Sinh
Thật đắng cay, ta sống như là chết với cái chết của mình
Và ta đành quay trở về Vương quốc
Nhưng chẳng tìm ra cho mình sự bình yên
Con người vẫn bám chặt vào thần thánh của mình.
Bởi thế, tôi vui mừng đón chào cái chết khác.


_________________

(1)Bài thơ này in lần đầu trên thiệp Giáng sinh của nhà xuất bản “Faber and Faber” năm 1927. Cũng trong năm này T. S. Eliot nhập quốc tịch Anh và cải đạo sang Anh giáo. Bài thơ này dựa theo câu chuyện kể về sự Giáng sinh của Chúa Giê-su (Tân Ước_Ma-thi-ơ 2:1-12). Tuy vậy, ngay từ dòng đầu Eliot đã viết theo cách của mình. Bài thơ không nhắc đến ngôi sao dẫn đường, không nói gì về lễ vật là vàng và nhũ hương hay sự vui mừng của các đạo sĩ. Eliot chỉ nói về sự khó nhọc của con đường đi đến lòng tin mới (việc cải đạo của mình). Nhân vật chính của bài thơ là một đạo sĩ hồi tưởng lại cuộc hành trình sau nhiều năm đã trôi qua. Và, hóa ra là con đường có rất nhiều ngờ vực, có thể, “tất cả chỉ là điên rồ, cuồng loạn”. Nhưng sau khi đã trở về Vương quốc (Anh) cuộc sống cũng chẳng yên bình hơn. Sự hồi sinh này đòi hỏi cái chết, và chỉ sau cái chết này, có thể, sẽ sinh lại lần hai.

Cả bài thơ dựa trên hai phạm trù triết học: Sinh và Tử. Người kể chuyện chưa tiếp nhận hết lòng tin mới, mà muốn chết để giải thoát mối nghi ngờ của những người sống quanh mình, những người vẫn tôn thờ những đạo sĩ cổ xưa. Bài thơ cho thấy việc cải đạo sang Anh giáo của T. S. Eliot không một chút dễ dàng.


(2)Khổ thơ đầu trong ngoặc là những lời thuyết giáo đêm Giáng sinh của giáo chủ người Anh, Lancelot Andrews (1555-1626).


(3)Đây là ba cây gỗ treo ba cây thập ác để đóng đinh Chúa Giê-su cùng với hai tên trộm-cướp ở hai bên (Tân Ước_Luca 23: 32,33).


(4)Con ngựa bạch trong Khải huyền: “Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, có một con ngựa bạch hiện ra; Đấng cưỡi trên ngựa ấy gọi là Đấng Trung tín và Chân thật; Ngài lấy lẽ công bằng mà xét đoán và chiến đấu…” (Tân Ước_Khải huyền 19:11).






NGÀY THỨ TƯ TRO BỤI(1)
(Trích)

Bởi tôi không còn hi vọng quay về
Bởi không còn hi vọng
Bởi tôi không còn hi vọng quay về
Quà tặng và đam mê của người ta không sưởi ấm
Tôi giờ không còn ao ước bay xa
(Chẳng lẽ chim ưng già còn giang đôi cánh?)
Chẳng lẽ lại đi khóc than
Khi hiểu ra là đã không còn sức mạnh?

Bởi tôi không hi vọng còn nhìn thấy mặt
Niềm vinh quang mong manh chỉ trong phút chốc
Bởi vì tôi không suy nghĩ, đợi chờ
Bởi tôi biết rằng tôi không biết được bao giờ
Quyền lực đi qua đâu là đích thực
Bởi không còn dòng nước
Với cỏ và hoa đã không tìm lại bao giờ.

Bởi tôi biết rằng thời gian mãi mãi là thời gian
Và nơi chốn mãi mãi là nơi chốn
Và những gì hiện hữu chỉ thuộc về một thời gian
Và chỉ thuộc về một chốn
Những gì tôi có được tôi cảm thấy bằng lòng
Tôi không cần vẻ mặt hân hoan, sôi nổi
Và không cần giọng nói
Bởi tôi không còn hi vọng quay về
Nên tôi vui rằng tôi phải tạo ra
Một điều gì đem lại niềm vui vẻ.

Và tôi lạy Chúa lòng lành
Và cầu xin để cho tôi được quên
Tất cả những gì tôi từng tranh cãi
Để cho tôi nhận thấy
Bởi tôi không còn hi vọng quay về
Tôi nói những lời này là để cho
Cái đã kết thúc không bắt đầu trở lại
Để người phán xét sẽ tỏ lòng thương.

Bởi những đôi cánh kia đã chẳng bay lên
Vào bầu trời như những cánh chim
Vào bầu trời bây giờ khô khan bé bỏng
Bé bỏng và khô khan hơn nỗi ước mong
Dạy cho chúng ta sự hờ hững và quan tâm
Dạy cho chúng ta biết ngồi trong tĩnh lặng.

Xin cầu nguyện cho những lỗi lầm trong giờ chết
Lời cầu nguyện bây giờ và trong giờ chết của ta.
________________


(1) Trường ca Ngày thứ tư tro bụi đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tạo của Eliot: chuyển từ sự thất vọng, hoài nghi – là đặc trưng của dòng văn học “thế hệ mất mát”(lost generation) những năm 20 đến sự tìm tòi những giá trị bền vững, chắc chắn hơn. Eliot tìm thấy những giá trị này ở Anh giáo, tuy vậy quan niệm triết học-đạo đức của ông có nhiều chỗ không trùng hợp với giáo luật chính thống. Nhà thơ hiểu những khái niệm như: con người, cuộc sống, văn hóa, đạo lý… một cách rộng hơn, phong phú hơn, mà đặc biệt là mang tính nhân văn nhiều hơn. Trong trường ca này bắt đầu hình thành một quan niệm triết học mới xuyên suốt những sáng tác của ông trong ba thập kỷ tiếp theo mà Bốn khúc tứ tấu là một tác phẩm tiêu biểu. Phần trích trên đây là phần đầu của trường ca.

“Ngày thứ tư tro bụi”(Ash Wednesday) – một khái niệm đặc thù của Thiên chúa giáo. Đây là tên gọi của ngày đầu Tuần lễ chay, bắt đầu bằng sự nhớ về bốn mươi ngày, khi Đức Thánh Linh đưa Đức Chúa Giê-su đến nơi đồng vắng (TânƯớc_Ma-thi-ơ 4:1-11). Hình dung từ “tro bụi” gắn liền với lễ xưng tội của ngày này: kẻ xưng tội lấy tro vẽ hình thập ác lên trán và nhắc lại lời chép trong Kinh Thánh: “Ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Tân Ước_Sáng thế ký 3:19).




BỐN KHÚC TỨ TẤU(1)
(Trích)

Burnt norton

τού λόγου δ'εόντος ξυνού ζώουσιν οί
πολλοί ώς Ιδίαν έξουτες φρόνησιν
I. p. 77. Fr. 2. {1}

όδός άνω κάτω μέα καί ώυτή
I. p. 89. Fr. 60. {2}

Diels: Die Fragmente der Vorsokratiker Herakleitos.

(1)Từ ngữ với mọi người có nghĩa như nhau, nhưng đa số có vẻ như hiểu theo cách của riêng mình. Herakleitos I, 77, 2.
(2)Con đường đi và con đường đến – chỉ là một con đường. Herakleitos I, tr. 89, dòng 60.


I
Cả hiện tại và quá khứ
Có lẽ đều có mặt ở tương lai
Và tương lai có mặt trong quá khứ.
Nếu thời gian còn mãi bây giờ
Thời gian không thể nào chuộc lại
Cái chưa đến là trìu tượng
Và chỉ mãi mãi giữ nguyên
ở trong vùng suy luận.
Cái chưa đến và đã đến
Luôn luôn ở trong một điểm – bây giờ.
Những bước chân vang vọng trong trí nhớ
Đến miền ta chửa từng qua
Về cánh cửa không bao giờ mở
Vào vườn hồng. Những lời của ta
Vang vọng ở trong em.
Nhưng có cần thiết chăng
Tro bụi trên bình hoa lo lắng
Ta không biết rằng
Tiếng vang khác hẳn
Ngự trị khu vườn. Có nên bước vào không?
Tiếng chim hót: nhanh lên, hãy tìm thấy chúng
Quanh góc phòng. Qua cánh cổng đầu tiên
Bước vào thế giới đầu tiên, hãy tin
Tiếng chim hót? Bước vào cuộc đời thứ nhất
Chúng ở đó trang nghiêm, không nhìn thấy được
Lơ lửng trên những chiếc lá lìa cành
Trong mùa thu ấm áp, qua không khí ngân vang
Và lời chim nhắc lại
Tiếng nhạc không nghe ra, giấu mình trong bụi
Và giao nhau những ánh mắt vô hình
Bởi hoa hồng thấy những ánh mắt nhìn
ở đó họ là khách của ta, là khách mà chủ
Theo luật lệ ta bước đi theo họ
Đường phố hoang vu, nhìn hồ nước đã khô
Và những bụi gai mọc ở quanh hồ.
Hồ nước khô, bê tông khô và màu hung bên mép
Ngày xưa trong hồ này nước mặt trời đầy ắp
Và lặng lẽ, dịu dàng có một bông sen
Nước lấp lánh và ánh sáng trong tim
Và họ từng ở sau ta, phản chiếu trên hồ nước
Nhưng đám mây bay qua và hồ khô kiệt.
Chim hót: hãy đi đi, có những đứa trẻ con
Giấu mình trong bụi và chúng đang cười ầm.
Hãy đi đi, đi đi – và tiếng chim lại hót:
Con người vẫn nhọc nhằn khi cuộc đời hiện thực.
Cả quá khứ và cả tương lai
Cái chưa đến và đã đến
Luôn luôn ở trong một điểm – bây giờ.
_______________

(1)Bốn khúc tứ tấu được viết trong khoảng thời gian từ 1934-1942, lần đầu tiên in thành sách năm 1943. Đây là tác phẩm thể hiện quan niệm thơ ca và triết học của Eliot được hình thành trong những năm 20, 30, tiêu biểu là tác phẩm Ngày thứ tư tro bụi. Eliot kết hợp ở đây khái niệm về linh hồn bất tử của Cơ đốc giáo với cách giải thích khoa học những phạm trù như thời gian, nơi chốn, sự vô tận, sự chuyển hoá liên tục thành những hình thái khác nhau của đời sống… Giải quyết những vấn đề này, Eliot chủ yếu dựa vào triết học trực cảm của Henri Bergson (1859-1941). Năm 1911 Eliot thường xuyên dự những giờ giảng triết học của Henri Bergson, cũng là người đoạt giải Nobel Văn học năm 1927. Ngoài ra, chính Eliot nhiều lần tuyên bố rằng ông theo đuổi chủ nghĩa lý tưởng tuyệt đối trong triết học của Francis Bradley (1846-1924), đặc biệt là tác phẩm Thể diện và thực chất (Apperance and Reality, 1893).


Bốn khúc tứ tấu là: 1) Burnt Norton; 2) East Coker; 3) The Dry Salvager; 4) Little Gidding. Đoạn trích trên đây là phần I (mỗi khúc tứ tấu có 5 phần) của khúc đầu tiên. Burnt Norton là một điền trang ở Gloucestershire, gần nơi ở của Eliot.


- Năm dòng đầu: “Cả hiện tại… không thể nào chuộc lại” (Time present… unredeemable) là cách hiểu các hình thái thời gian của Henri Bergson dẫn lời Kinh Thánh: “whatsoever God doeth it shall be for ever… That which hath been is now; and that which is to be hath already been…” (Ta biết rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm nên còn có đời đời… Điều gì hiện có, đã có từ xưa… Cựu Ước_Truyền đạo 3: 14,15).


- Vườn hồng (rose-garden) – hình tượng luôn xuất hiện trong Bốn khúc tứ tấu, có nghĩa là vườn địa đàng được Eliot dùng như là biểu tượng của tình yêu với tâm hồn thức tỉnh.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét