Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Joseph Brodsky - 1987


Joseph Brodsky (1940-1996) - nhà thơ Mỹ gốc Nga Do Thái đoạt giải Nobel Văn học năm 1987 “vì sự sáng tạo mang tính khái quát được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng rõ ràng và sức mạnh của thơ ca”. Brodsky đã sáng tạo nên một thế giới thơ ca độc đáo được thể hiện bằng những quan niệm của nghệ thuật hậu hiện đại. Các nhà phê bình coi ông “là người tổng kết thơ ca thế kỷ XX”. Đôi khi người ta cũng gọi Brodsky là nhà thơ cuối cùng của Thế kỷ bạc trong thơ Nga. Tiếp bước những bậc tiền bối của Thế kỷ vàng, ông đã tạo nên một ngôn ngữ thơ của riêng mình xuất phát từ tầng sâu của sự nhận thức.

Tiểu sử:
Brodsky sinh ngày 24-5-1940 tại Leningrad (Liên bang Nga). Cuộc đời của nhà thơ này từ nhỏ đã có những chi tiết thú vị. Thời thơ ấu Brodsky sống trong một căn hộ nhỏ của ngôi nhà mà trước cách mạng tháng Mười đã từng sống hai nhà thơ Nga sau đó cũng ra sống ở nước ngoài: Merezhkovsky và Zinaida Gippius. Học ở trường phổ thông mà ngày trước Afred Nobel đã từng học và năm 1987 được trao giải Nobel Văn học…

Thuở nhỏ Brodsky mơ ước trở thành bác sĩ nhưng 15 tuổi đã phải nghỉ học vì mưu sinh. Sau đó, tự học tiếng Anh, tiếng Ba Lan, nghiên cứu truyền thuyết, tôn giáo và triết học; 16 tuổi bắt đầu làm thơ; 17 tuổi hoàn thành tập thơ nổi tiếng Vĩnh biệt, hãy quên, đừng trách cứ gì nhau... và được công nhận là một nhà thơ, một dịch giả tài năng . Năm 1963 J. Brodsky bị kết tội "ăn bám xã hội" và gửi đi cải tạo 5 năm ở miền bắc Nga. Nhờ sự phản đối của các nhà văn trong và ngoài nước hai năm sau ông được trở về Leningrad. Năm 1972, ông lại bị trục xuất, phải sang Vienna, London và cuối cùng là Hoa Kỳ. Từ đây, Brodsky sáng tác bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh.

Lời khai trước tòa của Brodsky:
Dưới đây là những câu hỏi và lời khai của Brodsky trước Tòa về tội "ăn bám". Những lời này được thư ký của phiên tòa ghi lại và sau đó được phổ biến trong những bài viết in ngoài luồng (samizdat).

Tòa: Thâm niên lao động của anh là bao nhiêu?
Brodsky: Khoảng chừng…
Tòa: Chúng tôi không cần "khoảng chừng"!
Brodsky: Năm năm.
Tòa: Anh làm việc ở đâu?
Brodsky: Ở nhà máy. Ở các nhóm địa chất…
Tòa: Anh làm ở nhà máy bao nhiêu lâu?
Brodsky: Một năm.
Tòa: Làm nghề gì?
Brodsky: Thợ phay.
Tòa: Thế nói chung nghề chuyên môn của anh là gì?
Brodsky: Nhà thơ, nhà thơ – dịch giả.
Tòa: Ai thừa nhận anh là nhà thơ? Ai xếp anh vào hàng ngũ các nhà thơ?
Brodsky: Không ai cả. Thế ai xếp tôi vào giống người?
Tòa: Thế anh có học cái đó không?
Brodsky: Cái gì?
Tòa: Cái nghề làm thơ ấy? Anh đã không cố gắng học hết đại học… nơi người ta dạy…
Brodsky: Tôi không nghĩ… tôi không nghĩ là học vấn mang lại điều này.
Tòa: Thế thì cái gì?
Brodsky: Tôi nghĩ… đó là (thất vọng) do trời phú…
Tòa: Anh có yêu cầu gì với Tòa không?
Brodsky: Tôi muốn được biết tôi bị bắt vì tội gì?
Tòa: Đấy là câu hỏi chứ không phải yêu cầu.
Brodsky: Thế thì tôi chả có yêu cầu gì cả.


Trong một bài phỏng vấn, Brodsky gọi đấy là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời của mình. Chính thời gian này ông đi sâu tìm hiểu về thơ ca Anh.

Năm 1977, ông nhập quốc tịch Mỹ và làm giáo sư văn học cho trường Cao đẳng Five College ở Mount Holyoke, bang Massachusetts. Năm 1978, Đại học Yale trao cho J. Brodsky bằng tiến sĩ văn học danh dự. Năm 1979, ông trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật - Văn chương Mỹ. Năm 1981, ông được Quỹ John D. và Catherine T. MacArthur trao tặng giải thưởng cho các tác phẩm thiên tài. Năm 1986, cuốn tiểu luận về nghệ thuật và chính trị Ít hơn một của ông được giải thưởng của Nhóm các nhà phê bình sách Quốc gia (Mỹ).

Joseph Brodsky mất ở Mỹ ngày 28-01-1996 tại nhà riêng vì căn bệnh nhồi máu cơ tim. Hai tuần trước khi chết nhà thơ đã mua đất trong nghĩa trang ở New York, gần Broadway. Ông được chôn ở đó. Tháng 6 năm 1997, thi hài của ông được cải táng về nghĩa trang San Michele ở Venezia, Italia. Trên bia mộ có dòng chữ bằng tiếng Latinh của nhà thơ Sextus Propertius thời La Mã cổ đại: Letum non omnia finit — Chết không phải là hết.  


Tác phẩm:
- Vĩnh biệt, hãy quên, đừng trách cứ gì nhau... (Прощай, позабудь и не обессудь, 1957), thơ.
- Khúc bi ca lớn gửi Donne John (Большая элегия Джону Донну, 1963).
- Thơ và trường ca (Стихотворения и поэмы, 1965), thơ.
- Trạm dừng trong sa mạc (Остановка в пустыне, 1970), thơ.
- Kết thúc thời tốt đẹp. Thơ những năm 1964-71 (Конец прекрасной эпохи. Стихотворения 1964-71, 1977), thơ.
- Một phần của lời nói. Thơ những năm 1972-76 (Часть речи. Стихотворения 1972-76, 1980), thơ và bài viết.
- Những khúc bi ca La Mã (Римские элегии, 1982), thơ.
- Những bài tứ tuyệt mới gửi Augusta (Новые стансы к Августе, 1983), thơ.
- Сẩm thạch (Мрамор, 1984), kịch.
- Ít hơn một (Меньше одиницы, 1986), tiểu luận.
- Lịch sử thế kỉ hai mươi (History of the twentieth century, 1986), thơ.
- Urania (Урания, 1988), thơ.
- Bút kí dương xỉ (Заметки папоротника, 1990).
- Trên các nẻo Atlantida (На околицах Атлантиды, 1992).
- Bờ sông của những kẻ vô phương cứu chữa (Набережная неисцелимых, 1992), thơ.
- Hoa văn mờ trên giấy (Watermark, 1992), tiểu luận.
- Nỗi đau và lí trí (Скорбь и разум, 1995), tiểu luận.
 


29 bài thơ



VĨNH BIỆT, HÃY QUÊN

Vĩnh biệt
Hãy quên
Đừng trách cứ gì nhau.
Còn những bức thư
Em hãy đốt
Như cầu.
Con đường của em
Sẽ trở thành can đảm
Con đường thẳng
Và sẽ giản đơn.
Rồi đây trong màn sương
Sẽ cháy lên cho em
Một vì sao ngời sáng
Và một niềm hy vọng
Của bàn tay sưởi ấm
Bên bếp lửa nhà em.
Rồi sẽ có bão tuyết, mưa giông
Và tiếng gào điên cuồng của lửa
Sẽ có những thành công rực rỡ
Phía trước đợi chờ em
Sẽ tuyệt vời và mạnh mẽ vô cùng
Một trận đánh
Sẽ vang lên trong lồng ngực của em.

Anh hạnh phúc và xin chúc mừng
Cho người, mà có thể
Sẽ đi cùng em
Trên một con đường.
1957





TÔI ĐÃ YÊU EM*

Tôi đã yêu em. Tình yêu vẫn là (có lẽ
chỉ một cơn đau) khoan vào não của tôi.
Tất cả đã bay đi theo quỉ sứ hết rồi.
Tôi thử bắn vào mình nhưng thật khó
với vũ khí. Và sau đó: thái dương
run lên. Không vì run mà vì sự trầm ngâm
không giống của người trần! Rõ là quái quỉ!
Tôi đã yêu em trong vô vọng và rất mạnh mẽ
cầu cho em người khác – nhưng Chúa chẳng ban!
Bởi vì rằng, Ngài còn có biết bao nhiêu thứ
theo Parmenides** – không sáng tạo hai lần
cơn nóng trong máu, xương kêu lên răng rắc
để vôi răng trong miệng chảy ra vì khao khát
chạm vào “bức tượng” , tôi gạch xóa – môi hôn!
__________________
*Đây là bài sonnet thứ 6 trong tập thơ gồm 20 bài sonnet viết về Mary Stuart - Nữ Hoàng Scotland (Двадцать сонетов к Марии Стюарт). Brodsky dựa theo tên gọi một bài thơ nổi tiếng của A. Puskin (Tôi đã yêu em) mà ở Việt Nam cũng rất nổi tiếng qua bản dịch Tôi yêu em của Thúy Toàn. Brodsky dựa theo một vài chi tiết của Puskin nhưng hoàn toàn viết theo cách của mình. Có thể nói tình yêu trong bài thơ của Puskin là một tình yêu cao thượng cả ở tình cảm cũng như lời cầu chúc, còn tình yêu trong bài thơ của Brodsky là một tình yêu bất hạnh mà theo tác giả “chỉ là cơn đau khoan vào não” làm cho tác giả chỉ muốn tự tử. Còn ở lời cầu chúc thì tác giả cũng dựa theo triết học của Parmenides, cho rằng trên đời sẽ không còn một tình yêu y hệt như thế nữa ở một người đàn ông nào khác. Có rất nhiều ý kiến tranh luận và so sánh hai bài thơ này nhưng hầu hết đều coi đây là “Hai bài thơ lớn” của thi ca Nga, một của “Mặt trời thi ca Nga”, một của nhà thơ lớn cuối cùng của “thế kỷ bạc”, người đoạt giải Nobel văn học năm 1987.
**Parmenides (thế kỷ V trước CN) – nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người lập ra trường phái Aleatic. Trong tác phẩm thơ “Bàn về tự nhiên” ông giải thích rằng thực tại là đơn nhất, thay đổi không thể xảy ra, sự tồn tại là vĩnh viễn, đồng nhất, cần thiết và không thay đổi.


TÌNH YÊU

Trong đêm nay anh thức giấc hai lần
đến bên cửa sổ, dãy đèn dưới phố
như những câu rời rạc trong giấc ngủ
chẳng đến đâu, như dấu chấm cả hàng
chẳng hề mang cho anh niềm an ủi.

Anh mơ thấy em mang thai, và cảnh
bao năm rồi sống ly biệt với em
anh cảm thấy điều lầm lỗi của mình
và vui mừng đưa tay sờ lên bụng
nhưng thực ra đang sờ soạng tìm quần

và công tắc. Anh đến bên cửa sổ
hiểu rằng anh đã bỏ em ở đó
trong bóng đêm, nơi em vẫn kiên gan
đợi chờ anh mà không hề buộc tội
khi anh về, sự ngắt quãng cố tình.

Bởi vì rằng ở đó, trong bóng đêm
rồi sau bị ngắt ra trong ánh sáng.
Chúng mình thành vợ chồng, ta là những
con quái vật hai lưng, còn đứa con
là sự thanh minh cho sự trần truồng.

Rồi sau này, lúc nào đó, trong đêm
em lại đến – yếu gầy và mệt mỏi
anh nhìn đứa con trai hay con gái
còn chưa kịp đặt tên gọi – thì anh
không đi tìm công tác để bật đèn

không giơ tay và anh chẳng có quyền
bỏ mẹ con em trong vương quốc bóng tối
rất âm thầm, và trước hàng rào giậu
của tháng ngày, sự phụ thuộc khiến anh
không thể tiếp cận với em ở đấy.
1971
___________________
*Đây là bài thơ về Mariana Pavlova Basmanova (sinh năm 1938) – nữ họa sĩ Nga, người tình một thuở của Joseph Brodsky, họ có với nhau một đứa con trai.



BỨC THƯ GỬI A. D*

Dù em không nghe ra, không nghe lấy một lời anh
nhưng dù sao, dù sao, thật lạ lùng, cho em anh lại viết
nhưng thật lạ lùng là lại đi nhắc lại những lời giã biệt.
Xin chào em. Thật lạ lùng khi đang rơi vào sự lặng im.

Dù em chẳng nghe ra, ở nơi này lại đã mùa xuân
như con chim bằng gang vẫn từ những cành cây ấy
như những ngọn đèn kêu, nơi trong đêm mình em qua lại
ngày đang buông – ở nơi em đã yêu chỉ có một mình.

Anh lại đến cõi thiên đường, ở nơi bệnh viện em đã nằm
trên tầng sáu, trong tình yêu đáng thương một mình em gan dạ
ở cái nơi lại tụ tập trên cầu một đám đông những người áo đỏ
những chiếc tàu điện suốt cuộc đời em vội vàng đuổi theo em.

Lạy Chúa tôi! Dù sao thì cũng không đuổi kịp được theo em
dù sao thì, dù sao thì cũng không bao giờ đi lên được
trên quê hương mình, nhưng được nhìn trong lần giã biệt
trên quê hương mình em bay trong con tàu của sự lặng im.

Chúc thượng lộ bình an, hãy trở về với bạc tiền và sự vinh quang
Chúc thượng lộ bình an, em giờ xa xôi, hỡi Chúa đầy quyền lực!
Em vội vàng chạy đi đâu, ngược xuôi trên trái đất này bát ngát
để nơi này chẳng có em! Tựa như em đã chết, hở người thương.

Ở xứ sở mới này nhựa đường nguyên chất ở dưới bàn chân
bàn tay và bộ ngực của em – em can đảm trở nên người khác
ở xứ sở mới này, nơi em đang hít thở khí trời và đang ôm ấp
em nói vào mi-crô, nhưng em không nghe một ai đó trên trần.

Trong phút giây vô vọng, anh vẫn giữ gìn vẻ mặt của em
và hờ hững với em – vì sự dịu dàng của em không còn nữa
vì sự cô đơn của em, vì sự mù quáng một chiều rất khác lạ
vì sự bối rối của em, vì tuổi thanh xuân đầy im lặng của em.

Tất cả những gì em bỏ qua, em loại bỏ, chỉ đi ngang
tất cả những gì đã, đang và em sẽ còn xua đuổi nữa –
cả ban ngày, ban đêm, cả mùa đông, mùa xuân, mùa hạ
và trên những cánh đồng thu – tất cả vẫn còn ở lại với anh.

Anh chấp nhận món quà không nghĩ suy, nhu nhược của em
rửa sạch lỗi lầm, để cuộc đời mở ra như cả nghìn vòm cửa
mà có thể là tín hiệu thân thiện – về quãng đời trong quá khứ
để em khỏi lầm đường trên quê hương vốn bình lặng của em.

Tạm biệt em! Vĩnh biệt em, tạm biệt người yêu dấu của anh.
Tạm biệt em! Vĩnh biệt em! Ở đấy không phải em mà ai đó khác.
Em hãy bay bằng tàu bay lặng im – vào không gian khoảnh khắc
và hãy bơi bằng tàu thủy lãng quên – vào biển lớn lãng quên.
1962
__________________
*Đây là bài thơ về Alya Druzina (Аля Друзина), một cô bạn thân thời trẻ của J. Brodsky. Alya sau đi lấy chồng là người Iceland (Ai-xơ-len).






KHÔNG TÌNH YÊU, KHÔNG BUỒN BÃ, U HOÀI

Không tình yêu, không buồn bã, u hoài
không lo lắng, không đớn đau trong ngực
có vẻ như cả cuộc đời trên vai
và chỉ còn một nửa giờ phía trước.

Hãy nhìn xem – có lẽ sẽ nhìn ra
tắc xi chạy ầm ầm trong hẻm vắng
cây cối phía sau bờ giậu nhà thờ
đang xào xạc trên bé con bị ốm

từ một khoảng cách không hề xác định
người bảo vệ trẻ tuổi huýt sáo lên
và tiếng kêu vô nghĩa của dương cầm
đang trôi nổi bơi trên đầu của bạn.

Nhưng ngay lập tức bạn không cảm thấy
giá mà có được những năm mái vòm
đá diabaz bây giờ trống không
đem đi chúc đời mình thành hai nửa
1962



THÌ ĐÃ SAO. TA TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG

Thì đã sao. Ta trở về quê hương.
Nhìn xung quanh, ta còn còn có ai cần
với ta bây giờ còn ai kết bạn?
Trở về đây, lo bữa tối cho mình

ra cửa hàng mua một chai rượu vang
nhìn cửa sổ và nghĩ suy một tý:
trong mọi thứ ta là người có lỗi
thì cũng không sao. Lạy Chúa lòng lành.

Không có ai đổ lỗi, thật tốt lành
thật tốt lành, không buộc ràng ai cả
cho đến ngày xuống mồ không ai phải
yêu thương ta, khi còn sống trên trần.

Rằng không bao giờ ở trong bóng đêm
có bàn tay ai tiễn đưa ta cả
thật tuyệt vời trên đời này đơn lẻ
từ nhà ga đi bộ về nhà mình.

Thật tuyệt vời trở về quê vội vàng
tìm bắt mình trong lời không giấu giếm
và bỗng hiểu ra tâm hồn rất chậm
về những thay đổi mới biết quan tâm.



TÔI NHƯ UY-LÍT-XƠ

Mùa đông, tôi đang đi giữa đông này
về đâu đó trên quê hương thấy được
hãy xua tôi, buổi xấu trời, trên đất
dù đi lui, xua tôi giữa cuộc đời.

Moskva, ấm cúng buổi sớm mai
trên những phố có lều căng vải bạt
những người lạ vẫn tới lui như trước
trong những cửa hàng đèn chiếu sáng ngời.

Màu vàng rộm của những đồng xu rơi
màu krypton trên mặt người qua lại
hãy đuổi tôi như Ga-ny-mít* mới
uống chén trần gian đưa xuống từ trời

tôi không hiểu, đến từ đâu, về đâu
tôi bước đi, đ mất nhiều thứ quá
trong thời gian, trên con đường lặp lại
ôi Chúa ơi, thật nhảm nhí làm sao.

Ôi Chúa ơi, con xin Chúa không nhiều
ôi Chúa ơi, con nghèo hay giàu có
nhưng mỗi ngày con thở bằng quá khứ
tự tin hơn, và thanh sạch, ngọt ngào.

Mọi người ơi hãy thấp thoáng qua mau
tôi bước đi, ngỡ như đầy hạnh phúc
hãy xua tôi, như Uy-lít-xơ, về phía trước
nhưng hiểu rằng đang đi lại phía sau.

Hãy nắm bắt lấy kẻ gặp được nào
và nhắc lại cảm tình, dù gượng ép:
từ tình yêu này đến tình yêu khác
sống yêu đời, còn đau khổ ít thôi.
1961
_________________
*Ga-ny-mít – tức Ganymede. Trong thần thoại Hy Lạp, Ganymede là hoàng tử của thành Tơ-roa. Homer miêu tả Ganymede là cậu thiếu niên đẹp nhất cõi trần tục bị thần Dớt bắt cóc lên đỉnh Olympia. Ganymede trở thành vị thần của tình yêu và ham muốn đồng tính, cậu còn là người giữ chiếc chén cho các vị thần trên đỉnh Olympia.




TÔI KHÔNG XIN BẤT TỬ TỬ THẦN

Tôi không xin bất tử tử thần
Tôi đang yêu, tôi nghèo và tôi sợ
Nhưng mỗi ngày tôi thở bằng quá khứ
Ngọt ngào hơn, thanh sạch, tự tin hơn.

Trên bờ sông, tôi thoáng đãng vô cùng
Thấy lộng gió, lạnh lùng và muôn thuở
Như đám mây vút bay qua cửa sổ
Rất nhẹ nhàng, rất vỡ vụn và nhanh.

Tôi không chết giữa mùa hè, mùa thu
Vải trải giường mùa đông không sột soạt
Hãy nhìn xem, tình yêu, như trong góc
Cháy giữa tôi và mạng nhện cuộc đời.

Có cái gì, như con nhện bị nghiền
Chạy trong tôi rồi lạ lùng tàn lụi.
Nhưng hơi thở và đôi bàn tay vẫy
Lơ lửng treo giữa tôi với thời gian.

Với thời gianvề số phận của mình
Tôi kêu gào bằng giọng rất buồn bã
Tôi đang nói về phận mình như thế
Nhưng câu trả lời là sự lặng im.

Bay trong cửa sổ, giật mình trong lửa
Hãy bay vào cái ngòi nổ tham lam.
Sông hãy ngân vang! Và hãy gọi lên
Pê-téc-bua của tôi, cây chuông cứu hỏa.

Mặc cho thời gian về tôi lặng lẽ
Để cho cơn gió than thở nhẹ thôi
Và trên mộ người Do Thái của tôi
Cuộc sống trẻ sẽ kêu lên bền bỉ.
1961


ĐỪNG BƯỚC RA KHỎI PHÒNG, ĐỪNG LÀM ĐIỀU GÌ SAI

Đừng bước ra khỏi phòng, đừng làm điều gì sai
Mặt trời đ làm gì, nếu bạn đang hút thuốc?
Sau cánh cửa đều vô nghĩa, nhất là lời hạnh phúc
Chỉ trong nhà vệ sinhvà bạn hãy trở về ngay.

Bạn đừng ra khỏi phòng, đừng gọi động cơ
Vì không gian được làm từ hành lang bé nhỏ
kết thúc bằng bộ đếm. Nếu như người yêu dấu
bước vào, mở miệng, đừng cởi áo, mà xua đi.

Đừng bước ra khỏi phòng, cứ cho là bạn bị đau.
Còn gì thú vị hơn trên đời những bức tường và ghế?
Cần gì phải đi ra, nơi mà bạn vẫn quay về mỗi tối
bạn vẫn là như thế, nữa là – bạn khác với lúc đầu?

Đừng ra khỏi phòng. Hãy nắm bắt điệu nhảy Bossa nova
trong áo khoác trên thân, trong chân trần mang guốc.
Trong hành lang có mùi bắp cải và mùi dầu bôi trượt tuyết.
Bạn viết nhiều chữ cái, và hãy còn một chữ sẽ thừa ra.

Đừng bước ra khỏi phòng. Và hãy để cho chỉ phòng thôi
đoán bạn trông như thế nào. Nói chung là người ẩn tích
ergo sum*, như hình thức thấy trong con tim của chất.
Đừng ra khỏi phòng! Trà ngoài phố thì đã nước Pháp đâu.

Đừng làm một thằng ngốc! Mà hãy như bao người khác.
Đừng bước ra khỏi phòng! Hãy trao ý chí cho đồ nội thất
dán mặt vào giấy dán tường. Hãy phòng thủ, tự giấu mình
sau tủ sắt khỏi thần thánh, không gian, chủng tộc và vi-rút.
1970
____________________
*Bossa nova – là một thể loại nhạc Brazil, với nghĩa là “xu hướng mới”.
**ergo sum – viết đầy đủ là Cogito ergo sum (tiếng Latinh: Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại) là một phát biểu triết học được René Descartes sử dụng đã trở thành yếu tố nền tảng cho triết học Tây phương.


NGÀY 1 THÁNG GIÊNG NĂM 1965

Địa chỉ của bạn các Đạo sĩ sẽ quên.
Không còn ngôi sao trên đầu mình.
Chỉ tiếng thét gào của cơn gió mạnh
mà bạn nghe ra như thuở hồng hoang.
Bạn ném chiếc bóng từ đôi vai mình
thổi tắt ngọn nến trước khi nằm xuống
bởi vì ngày có nhiều hơn là nến
mà cuốn lịch báo trước cho chúng mình.

Điều gì đây? Nỗi buồn? Có thể là nỗi buồn.
Một điệp khúc, điều thuộc lòng quen thuộc.
Nó sẽ vẫn còn lặp lại. Và cứ để vang lên.
Cứ để nó sẽ lặp lại và đi về phía trước.
Cứ để nó vang lên trong giờ phút lâm chung
như sự biết ơn với đôi môi và đôi mắt
biết ơn cái điều vẫn đang bắt buộc
mỗi chúng ta nhìn về chốn xa xăm.

Và bạn lặng lẽ khi nhìn lên trần
bởi vì trong bít tất dài không còn gì cả
bạn hiểu sự keo kiệt là món đồ đem cầm
của những thứ đã vô cùng xưa cũ.
Rằng đã muộn màng để tin vào phép lạ.
Và bạn hướng mắt về phía trời xanh
và bỗng nhiên bạn cảm nhận ra rằng
tự mình bạn là món quà cởi mở.
1965


THƠ VỀ NHỮNG NHẠC CÔNG MÙ

Những người mù lang thang trong đêm tối.
Trong đêm đen mọi thứ dễ dàng hơn.
Họ đi qua quảng trường.
Những người mù sống bằng mò mẫm.
Sờ soạng
chạm vào mọi vật bằng tay mình
không nhận ra ánh sáng và bóng tối
và họ cảm nhận những viên đá
từ đá làm ra những bức tường.
Sau những bức tường có những đàn ông.
Và phụ nữ.
Và con trẻ.
Và bạc tiền.
Vì thế
những bức tường không thể nào phá hủy
mà tốt nhất vượt qua những bức tường.
Mà âm nhạc ở trong đó không còn
âm nhạc sẽ bị nhấn chìm bởi đá.
Và âm nhạc sẽ chết đi trong đó
Bởi những cánh tay choàng.
Thật không hay khi phải chết trong đêm.
Thật không hay khi chết bằng mò mẫm.
Thì nghĩa là người mù – dễ dàng hơn.
Người mù đi bộ qua quảng trường.



2.KHÚC BI CA LỚN GỬI JOHN DONNE(1)

John Donne ngủ say, xung quanh đều ngủ cả.
Giường chiếu, sàn nhà, tường, những bức tranh
ngủ say móc treo, then cửa, thảm, bàn
tủ quần áo, nhà ăn, ngọn nến, rèm cửa sổ.
Tất cả ngủ say. Cốc chén và chai lọ
dao thái bánh mì, bát đĩa sứ, pha lê
cả ngọn đèn đêm, tủ, kính, đồng hồ
cả những bậc cầu thang và cánh cửa.
Đêm ở khắp nơi: trong mắt, trong góc phòng, trong tủ
giữa giấy trắng, trên bàn và cả trong lời
trong củi, trong kìm, trong góc đã tắt rồi
cái bếp lò, và trong từng đồ vật.
Trong áo kamzon(2), trong giày, trong tất
sau lưng ghế, trên giường và cả trong gương
trên thập ác, trong chậu, trên vải trải giường
trong chổi quét sân. Tất cả đều ngủ hết.
Tất cả ngủ say. Cửa sổ rơi đầy tuyết
Mái nhà hàng xóm trắng như vải trải bàn.
Cả khu phố trong giấc ngủ mơ màng
Khung cửa sổ bị cắt ra như chết.
Những vòm cửa, bức tường đều ngủ hết
Đá rải đường, song chắn, những khóm hoa
ánh sáng không bừng lên, không kẽo kẹt bánh xe…
những chiếc bàn con, rào giậu và dây xích.
Ngủ say cửa, tay cầm, từng chiếc móc
những ổ khóa ngủ say cả khóa lẫn chìa.
Không còn vang lên tiếng gõ, tiếng thầm thì
Tất cả ngủ say, chỉ tuyết kêu ken két.
Ngủ say những chiếc cân, ngủ say nhà ngục
ngủ say sưa cả những chiếc ghế dài.
Cả dây xích chó, cả mái hiên ngoài.
Mèo ngủ say, những đôi tai dựng ngược.
Luân Đôn ngủ say, cả người lẫn chuột.
Nước và tuyết, ngủ say những cánh buồm
sau những thùng xe tất cả ngủ mơ màng
cả chốn xa xăm với bầu trời ngái ngủ.
John Donne ngủ say. Và biển cùng anh ngủ.
Cát trắng trên bờ cũng ngủ say sưa.
Cả hòn đảo chìm đắm trong giấc mơ.
Mỗi khu vườn khóa bằng ba ổ khóa.
Những con cua, cây tùng, cây phong – ngủ cả.
Những ngọn đồi, những dòng suối, những lối mòn.
Cáo, chó sói. Cả gấu cũng lên giường.
Tuyết rơi đầy trước cửa hang trắng xóa.
Chim cũng ngủ. Tiếng hót không còn nữa.
Qụa không kêu, họa mi lặng trong đêm
không tiếng cười. Đồng nước Anh im lìm.
Chuột nhận lỗi lầm. Một ngôi sao lấp lóa.
Tất cả ngủ say. Tất cả nằm trong mộ
những kẻ chết rồi lặng lẽ ngủ yên
kẻ đang sống ngủ say sưa trên giường.
Ai cô đơn, ai trong tình ấp ủ.
Cả núi rừng, những dòng sông đều ngủ.
Ngủ say sưa cả thú dữ và chim.
Chỉ tuyết trắng bay liệng từ trời đêm.
Nhưng rồi lên những mái đầu sẽ ngủ.
Cả những thiên thần cũng say sưa ngủ
cuộc đời quên trong giấc mộng thánh thần
Ngủ say sưa cả Địa ngục, Thiên đàng.
Không một ai giờ này ra đi cả.
Thượng Đế ngủ. Mặt đất giờ xa lạ.
Mắt không nhìn và tai chẳng nghe ra.
Quỉ sứ ngủ cùng với lòng hận thù
trên những cánh đồng nước Anh trắng xóa.
Thiên thần ngủ với kèn. Những người cưỡi ngựa.
Cùng ngựa ngủ say trong giấc ngủ tròng trành.
Tất cả thiên thần xếp thành một đám đông.
Ôm lấy nhau dưới vòm trời của Chúa.
John Donne ngủ say. Thơ ca đều ngủ cả.
Mạnh yếu chẳng tìm ra, tất cả những vần
những hình ảnh, những buồn chán, lỗi lầm
cũng như thơ, nằm yên trong từ ngữ.
Mỗi câu thơ như người anh em gần gũi
dù thủ thỉ bên tai, chỉ một chút nhường.
Nhưng ai ai cũng rất xa thiên đàng
nên nghèo khổ, nỗi buồn đoàn kết lại.
Thơ iambơ cũng ngủ say như vậy.
Thơ cô-rê giống như kẻ canh chừng.
Bên phải, bên trái, ngủ say cả cách nhìn.
Và sự vinh quang cũng ngủ say sau đấy.
Những tai họa ngủ say. Ngủ say đau đớn.
Lầm lỗi ngủ say. Thiện và ác ôm nhau.
Lầm lỗi ngủ say. Tuyết rơi trắng một màu
trong không gian vặt vãnh tìm vết bẩn.
Tất cả ngủ say. Sách ngủ say thành đống.
Dòng sông lời thành băng giá lãng quên.
Những dòng sông với sự thật của mình.
Xiềng xích ngủ. Chỉ khua lên rất khẽ.
Tất cả ngủ. Thượng Đế, thiên thần, quỉ sứ.
Cả bạn bè, đầy tớ, những đứa con.
Chỉ tuyết vang lên trong bóng tối con đường.
Tiếng vọng trên thế gian không còn nữa.
Nhưng. Anh có nghe trong bóng đêm băng giá
có ai đó khóc, ai đó thì thầm.
Có ai đó phó thác cho mùa đông.
Và khóc lên. Trong bóng đêm ai đó.
Giọng rất thanh. Mảnh mai như kim nhỏ.
Nhưng chỉ không còn… Người ấy cô đơn
bơi trong tuyết. Khắp nơi lạnh và sương…
Khâu đêm với bình minh… Trên cao đó.
“Thiên thần chăng? Có ai đang nức nở
mong trở về đợi tuyết như mùa hè
của tình yêu? Trong bóng đêm về nhà.
Anh kêu trong bóng đêm? Câu trả lời chẳng có.
“Dàn đồng ca buồn. Có phải thiên thần nơi đó
nhắc cho ta những giọt lệ ngân vang.
Có phải các ngươi từ giã giáo đường
đang mê ngủ. Có phải các ngươi?” – Lặng lẽ.
“Có phải ngươi, Paven? Giọng của ngươi, đúng thế
đã chai sần bởi giọng nói khô khan.
Có phải ngươi, mái đầu bạc trong đêm
khóc ở đó?” Nhưng âm thầm gặp gỡ.
“Có phải bàn tay che mắt nhìn ngó
đôi bàn tay khắp nơi thấy lờ mờ?
Thượng Đế chăng? Dù ý nghĩ vẩn vơ
Nhưng tiếng khóc nghe chừng rất cao cả”.
“Có phải thiên thần Gabriel thổi gió
trong chiếc kèn, ai đó sủa rất to
chỉ một mình tôi đôi mắt mở ra.
Đang thắng yên cương những người kị sĩ.
Tất cả ngủ say. Trong bóng đêm ấp ủ.
Từ trời xanh chó chạy cả một đàn.
Có phải thần Gabriel giữa mùa đông
với chiếc kèn một mình đang nức nở?”

“Không phải - tôi, John Donne, tôi là hồn anh đó.
Tôi một mình buồn thấu tận trời xanh
rằng hồn anh bằng lao động của mình
tạo nên những tình cảm nặng nề và ý nghĩ.
Với những thứ này anh bay lên có thể
giữa những đam mê, giữa những lỗi lầm.
Anh từng là chim thấy nhân dân mình
khi bay trên những mái nhà, mọi ngả.
Anh nhìn thấy cả bao la biển cả.
Địa ngục kia anh nhìn thấy rõ ràng
và sau đó anh nhìn thấy Thiên đàng
trong khổ đau vì đam mê chối bỏ.
Anh nhìn thấy cuộc đời như đảo nhỏ.
Và anh từng gặp gỡ với Đại dương
khắp bốn phía chỉ tiếng rú, bóng đêm.
Anh giật-lùi rồi bay quanh Thượng Đế.
Nhưng hành trang vào trời xanh không thả
để thấy cuộc đời – trăm cái tháp mà thôi
và dải băng sông nhìn thấy từ trời
ngày phán xử không có gì đáng sợ.
Và khí hậu chỉ đứng yên một chỗ.
Tất cả như một giấc mộng rã rời.
Thượng Đế là ánh sáng trong cửa sổ mà thôi
màn sương đêm trong ngôi nhà xa lạ.
Những cánh đồng không có ai cày cả.
Không cày tháng năm. Thế kỉ cũng không.
Chỉ rừng vây quanh bốn phía như tường.
Chỉ mưa rơi tí tách trên hoa cỏ.
Người tiều phu đầu tiên với con ngựa nhỏ
chạy tới nơi rồi lạc lối trong rừng
vì sợ hãi đã trèo lên cây thông
trong thung lũng cháy bừng như ngọn lửa.
Tất cả xa xôi. Ở đây nhìn không tỏ.
ánh mắt lặng nhìn những mái nhà xa.
ở đây sáng không nghe tiếng chó nhà
và tiếng chuông hoàn toàn không nghe rõ.
Người tiều phu hiểu rằng xa tất cả
nên đã quay ngựa lại, phóng về rừng.
Ngay lúc này cả người, ngựa, bóng đêm
đã trở thành giấc mơ Kinh Thánh đó.

Không có đường. Tôi khóc lên nức nở.
Đành quay về với sỏi đá mà thôi.
Khi còn sống không thể đến nơi này.
Chỉ sau khi chết tôi về nơi đó.
ánh sáng của tôi ơi, tôi quên anh nhé
trong đất đai quên lãng đến muôn đời
về khổ đau của mong ước tôi bơi
để thân xác, chia ly đem khâu vá.
Tôi ngạc nhiên tiếng khóc nơi ngủ trọ
đang bay vào bóng tối rồi tan ra
tuyết khâu lại ly biệt của hai ta
giật tới-giật lùi, đang bay kim nhỏ.
Không phải tôi thổn thức, – mà anh khóc đó.
Một mình anh nằm trong tủ đựng đồ
một khi tuyết còn bay vào ngôi nhà ngủ mê
một khi tuyết còn bay vào bóng đêm từ đó”.

Giống như chim, anh ngủ yên trong tổ
khao khát cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn
đến muôn thuở vào ngôi sao anh tin
ngôi sao này tia sáng không còn nữa.
Giống như chim, tâm hồn anh sạch sẽ
con đường vui, đáng lẽ, phải lỗi lầm
cái tổ quạ, đáng lẽ, tự nhiên hơn
trên bầy xám những tổ chim làm giả.
Giống như chim, ban ngày anh tỉnh ngủ.
Còn bây giờ nằm dưới tuyết trắng tinh
bằng giấc mộng, bằng tuyết trắng khâu lên
khoảng không gian giữa hồn và xác ngủ.
Tất cả ngủ yên. Nhưng còn chờ đợi nữa
hai-ba dòng thơ và những miệng nhe răng
nghĩa vụ nhà thơ - tình yêu của người trần
còn tình yêu tâm hồn dành cho cha xứ.
Nước không rơi lên bánh xe ai đó
là bánh mì nơi trần thế đang vơi.
Bởi có thể với ai chia sẻ cuộc đời
thì cái chết ai cùng ta chia sẻ?
Lỗ trên vải. Ai muốn thì cứ xé.
Khắp mọi nơi. Đi. Rồi lại quay về
Giật mạnh nữa! Và chỉ vòm trời kia
trong bóng đêm lấy chiếc kim người thợ.
Ngủ yên. John Donne. Ngủ yên, đừng đau khổ.
áo thủng caftan(3) buồn bã treo cao
Từ mây đen nhìn xuống một ngôi sao
đã bao năm thơ của anh gìn giữ.
1963.
__________

(1)John Donne (Giôn Đôn)(1572-1631) – nhà thơ Anh theo trường phái siêu hình. John Donne hơn 200 năm bị người đời lãng quên. Chỉ đến đầu thế kỷ 20 nhà thơ W. B. Yeats mới tìm thấy bậc tiền bối của mình. J. Brodsky, như ta biết qua bài thơ này, cũng đã đánh giá rất cao John Donne. Thế kỉ XX John Donne, có lẽ, là nhà thơ cổ điển thời thượng nhất ở nước Anh. Ngoài thơ ông còn để lại một quyển sách 3 tập, nổi tiếng như một người thuyết giáo. “Con người không phải là một hòn đảo, không chỉ là tự mình; mỗi người là một phần của lục địa, một phẩn của tổng thể; nếu biển cuốn đi dù chỉ một hòn đất thì châu Âu sẽ trở nên ít hơn, cũng như nếu biển cuốn đi cả vùng đất mũi hay ngôi nhà của bạn anh, hay ngôi nhà của riêng anh. Cái chết của mỗi con người làm cho tôi trở thành ít lại vì tôi là một phần của nhân loại, và bởi thế anh đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai: chuông nguyện hồn anh đấy”. Những lời này của John Donne được nhà văn E. Hemingway dùng làm đề từ và tên của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Chuông nguyện hồn ai”.
(2)Kamzon - áo cổ, thường là ngắn tay của đàn ông Nga.
(3)Caftan - áo dài cổ của đàn ông Nga.



HAI NĂM SAU

Vâng, ta chẳng già hơn, chẳng điếc hơn.
Ta vẫn nói những lời như ngày trước.
Như tất cả, áo màu đen vẫn khoác
Những phụ nữ kia vẫn ít cảm tình.

Ta bây giờ vào vai không thường xuyên
Trong những bậc dốc nhà hát cô đơn
Những ngọn đèn trên đầu ta vẫn thắp
Như tiếng hò reo, hoan hỉ của đêm.

Ta sống bằng quá khứ, như bây giờ
Với tương lai, thời của ta chẳng giống
Ta không ngủ, người ngủ ta quên lãng
Và ta vẫn làm những việc như xưa.

Hãy giữ gìn vẻ vui nhộn ngây thơ
Trong tuần hoàn bóng đêm và ánh sáng
Những người vĩ đại cho vinh quang, cay đắng
Những kẻ nhân từ cho thế kỷ hư vô.


NGỌN NẾN CỦA TÔI

Ngọn nến của tôi ánh sáng rất mờ đục
chiếu vào thế giới của em – không có con đường.
Còn bóng của tôi che lên dấu vết
Vương quốc Chúa Trời – chốn ấy ở sau lưng.
Con đường em dù ở đâu: trong mây, trong rừng
khắp mọi nơi ngọn lửa kia gọi lớn.
Khi em càng đi xa, thì ánh sáng
ánh sáng này và bóng sẽ vang lên!
Dù xa xôi, dù không rõ mắt nhìn
dù đổi thay, dù cười thơ, nhạo báng
nhưng cho em sẽ luôn luôn chiếu sáng
dù đục mờ nhưng là ánh sáng riêng.
Dù tắt lửa! Dù giấc mộng tử thương
dù ngọn lửa vẫn ưa miền hoang vắng.
Nhưng thế giới mới của em lay động
bóng sáng ngời và gương mặt trong đêm.



NHỮNG GIỌT NƯỚC MƯA

Những giọt nước mưa rơi trên kính
như trên mặt người. Em hãy nhìn xem
trước và sau, từ bức tường lên bàn
còn anh ở bên trong thơ thẩn.

Bấc đèn rung. Và sáp kia chảy xuống.
Và ánh hồi quang yếu ớt dần vơi.
Cũng giống thế - đầu óc anh rung động
một khi mưa còn ầm ĩ khôn nguôi.





GỬI MỘT TRĂM NĂM ANNA AKHMATOVA

Trang sách và lửa, lúa và cối xay
mũi giáo nhọn và mái tóc cắt ngắn
Chúa giữ gìn tất cả - đặc biệt là lời
của tha thứ, tình yêu – như là giữ giọng.

Tiếng xương kêu, mạch đập trong những lời
tiếng xẻng rung lên đều đều, âm ỉ
đời chỉ một – chúng từ những bờ môi
vang lên rõ hơn ở nơi trần thế.

Tâm hồn vĩ đại, tôi cúi chào từ bên kia đại dương
tìm ra những gì cho mình, cho những gì tàn úa
chị ngủ trong lòng đất mẹ, cuộc đời mang ơn
tài thơ chị trong lặng câm Hoàn vũ.


CÁI CHẾT NHỎ NHEN

“… với cái chết nhỏ nhen gặp gỡ”
Garcia Lorca.

Cái chết nhỏ nhen của chó
Cái chết nhỏ nhen của chim.

Còn cái chết có kích thước bình thường
Là cái chết của người trần mắt thịt.




KHÔNG CÓ ĐÈN

Đêm, khi em nhìn từ khung cửa sổ
em có biết rằng còn xa lắm mùa xuân
bằng hình dạng quen mắt nhìn của đá
không gần hơn sự có mặt của thông.

Với nụ cười vô hình, không chân thật
xuyên qua răng em cắn chỉ xâu kim
để những ngón tay (hay cơ trên mặt)
trong tồn tại của mình thuyết phục cho tin.

Và con tim bỗng thắt trong lồng ngực
sợ lặng yên tĩnh mịch đến kinh hoàng
của không gian đang tối dần trước mặt
không ít hơn bóng tối ở sau lưng.
 



BUỔI CHIỀU

Tuyết rơi trên đống cỏ
Qua khe hở mái trần
Ta bới trong đống cỏ
Thấy một chú bướm con.
Con bướm nhỏ, ơi con bướm nhỏ
Cuộc sống của mi ta giữ gìn
Mi hãy bay vào trong đống cỏ
Để ngủ cho qua mùa đông.

Bướm bay đi và ngó nhìn
Như “con dơi” khói tỏa
Chiếu sáng rất rõ ràng
Bức tường nhà bằng gỗ.
Ta đưa bướm trước mặt mình
Nhìn thấy chùm phấn bụi
Rõ ràng hơn lửa cháy
Rõ hơn bàn tay mình.

Giữa buổi chiều mờ sương
Bướm cùng ta ở đấy
Bàn tay ta ấm nồng
Như những ngày tháng bảy.


SONNÊ

Hãy sống qua tất cả
Hãy sống qua lần nữa
Chúng như tuyết mà thôi
Tuyết mùa đông nhảy múa.

Hãy sống qua nhiều góc
Hãy chịu đựng góc phòng.
Hãy buộc vào, tập trung
Cái thiện và cái ác.

Nhưng sống qua khoảnh khắc.
Và thế kỉ của mình.
Chịu đựng tiếng kêu rên.
Và những gì lố bịch.

Hãy chịu đựng thơ ca.
Hãy sống qua tất cả.



NGHĨA ĐỊA DO THÁI

Nghĩa địa Do Thái ở gần Leningrad.
Bờ rào xiêu vẹo làm từ ván mục.
Phía sau bờ rào họ yên nghỉ bên nhau
những nhà buôn, nhà cách mạng,
những nhạc công, những nhà luật học.

Họ đã từng ca hát.
Từng dành dụm cho mình.
Rồi đã chết vì người khác.
Nhưng đầu tiên thuế họ đã nộp
và họ tôn trọng chính quyền
trong thế giới này vật chất
họ bàn luận kinh Talmud
và coi mình là những kẻ duy tâm.

Có thể, họ đã nhìn thấy nhiều hơn.
Mà, có thể, họ đã tin mù quáng.
Nhưng họ đã dạy cho trẻ con chịu đựng
và biết kiên tâm.
Lúa mì họ không gieo trồng.
Chưa bao giờ họ gieo lúa cả.
Chỉ đơn giản họ tự nằm xuống đó
như hạt giống trong đất lạnh, giá băng
ngủ say trong giấc ngủ vĩnh hằng.
Còn sau đó
người ta đến thắp nến trên mặt đất
trong ngày lễ Ba ngôi
những người già đói khát, bằng lời
kêu về sự bình yên, ngạt thở vì cơn đói.
Và sự bình yên những người này tìm thấy
trong thể vật chất phân hủy rã rời.

Không có gì để quên.
Không còn gì nhớ hết.
Sau bờ rào xiêu vẹo từ ván mục
bốn cây số cách bến tàu điện cuối cùng.






BÀI THƠ VIẾNG ROBERT FROST

Nghĩa là, anh đã ngủ yên.
Nghĩa là, phải bay về suối
ngọn gió ở đây đã thổi
làm tắt ngọn nến của anh.
Biết rằng dòng nước đã im
gió lượn vòng quanh trên đấy
rồi ngọn gió lại vội vàng 
đến nơi linh hồn đuổi khói.

Xin anh hãy cho phép tôi
giữa những bậc thềm yên ngủ
với ngôi sao trong cửa sổ
cho tôi được nói đôi lời
để sao vẫn sáng xung quanh
đi xa những đường phố vắng
biến mất khỏi nơi im lặng
và sẽ trở thành sáng hơn
trong bụi, nơi có người tóc vàng
sẽ bắt gặp cái nhìn anh đấy
dẫn anh đến với những người vĩ đại
một khi anh còn thơ thẩn một mình.



BỨC THƯ GỬI A. AKHMATOVA TỪ THÀNH PHỐ SESTRORETSK(1)

Trong những bụi cây Phần Lan bất tử
nơi những cây thông gian khổ trị vì
trong lòng tôi mừng vui khôn xiết kể
khi vịnh Phần Lan và xóm Komarovo(2)
được chiếu sáng bằng hoàng hôn tuyệt mĩ
chiếc lá vàng vô tư lự mùa thu
cứ mỗi giờ – bằng tình yêu của Chị
và lòng nhân từ của Chị – thiên thu.
_____________

(1)Sestroresk – thành phố ở phía bắc tỉnh Leningrad.
(2)Komarovo – khu làng nghỉ mát bên bờ vịnh Phần Lan, nơi đây có trại sáng tác của các nhà văn và mộ Anna Akhmatova. 






HAI NỬA CHIA ĐÔI

Chẳng lặng yên, không buồn bã, u hoài
không lo lắng, chẳng đau trong lồng ngực
có vẻ như cả cuộc đời trên vai
và tất cả chỉ nửa giờ phía trước.

Hãy ngoái lại, và em nhìn thấy rõ
trên phố tắc-xi nổ máy ầm ầm
sau bờ giậu nhà thờ từng chiếc lá
xào xạc trên đầu đứa bé ốm nhom.

Không biết được xa xôi từ đâu đó
người gác đồn cất tiếng huýt vang lên
và tiếng dương cầm vang lên vô nghĩa
có vẻ như bơi trên mái đầu em.

Em không hiểu nhưng mà em cảm nhận
giá được trao cho năm mảnh vòm trời
thì tốt đẹp, dù bây giờ trống rỗng
trăng trối đời mình hai nửa chia đôi.


TẦNG GẦN CUỐI

Tầng gần cuối
Cảm nhận sớm hơn bóng tối
Là phong cảnh xung quanh.
Anh ôm em vào lòng
Lấy áo che cho em khi đó
Bởi vì bên ngoài cửa sổ
Cơn mưa như tiếng khóc vô hình
Khóc về em và về anh.

Đã đến lúc ta đi xa
Mặt kính kia đem cắt
Cả sợi chỉ kia ánh bạc
Và thời gian của hai ta
Đến muôn đời đã mất.
Ta sẽ đổi thay chế độ
Và sẽ sống tiếp cuộc đời
Đã định sẵn ở xứ người.


ĐẦU TIÊN GHẾ NGỒI RƠI XUỐNG

Đầu tiên ghế ngồi rơi xuống
Sau đó đến giường rơi
Sau đó – cái bàn của tôi
Tự mình tôi đẩy xuống
Chẳng giấu diếm gì ai.
Sau đó nữa – sách giáo khoa “Lời mẹ”
Rồi ảnh của cả gia đình tôi.
Bếp và bốn bức tường sau đó.
Chỉ còn áo khoác và tôi.
Vĩnh biệt em yêu. Hãy tháo nhẫn ra
Viết những dòng về mốt
Và có thể, đi nhổ vào gương mặt
Kẻ nào đang chiếm chỗ của tôi.






29.SÁU NĂM SAU

Ta chung sống đã từ lâu, bây giờ lại
Mồng 2 tháng giêng nhằm đúng thứ ba
Thật diệu kỳ khi đôi mắt mở ra
Như thấy từ kính ôtô - cái cần gạt.
Từ gương mặt đọng lại một nỗi buồn
Rất rõ ràng bỏ lại chốn xa xăm.

Ta chung sống đã từ lâu, rằng tuyết trắng
Nếu đã rơi thì hãy đến muôn đời
Rằng đôi mắt chẳng lim dim, cũng thế thôi
Ta che chúng bằng bàn tay và năm tháng.
Không tin rằng thử chúng bằng cách rơi xuống
Rồi giãy giụa trong lòng bàn tay như bướm.

Ta đã từng lạ lùng với những gì mới mẻ
Rằng ôm ấp chỉ trong mộng mà thôi
Đã từng hổ thẹn khi phân tích tâm lý
Rằng đôi môi từng ghé xuống bờ vai.
Với môi anh cùng thổi cho nến tắt
Không thấy việc người ta, đi hoà nhập.

Ta chung sống đã từ lâu, rằng dòng họ
Của hoa hồng hai đứa đã gầy hơn
Đem thay bằng khu rừng nhỏ bạch dương
Và tiền bạc đã nhiều cho hai đứa.
Ba mươi ngày trên biển nói say mê
Bằng đám cháy hoàng hôn của Thổ Nhĩ Kỳ.

Ta chung sống đã từ lâu không có sách
Không đồ lề vụn vặt trên đi văng
Rằng một điều gì xuất hiện – trước tiên
Cần đường thẳng được xếp hình tam giác.
Đường quen thuộc thẳng đứng được phục hồi
Rồi gặp nhau trên hai điểm mà thôi.

Ta chung sống đã từ lâu, cùng em đó
Ta được làm ra từ chiếc bóng của mình
Cánh cửa vào chính mình – dù làm việc, ngủ yên
Nhưng hai cánh không mở ra riêng lẻ.
Và ta đi xuyên qua chúng, hai người
Bằng cổng sau, cùng bước tới tương lai.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét