Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

J. R. Jiménez - 1956


Juan Ramon Jiménez (24tháng 12 năm 1881 – 29 tháng 5 năm 1958) là nhà thơ Tây Ban Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1956 “vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha”. Các nhà phê bình thường nói đến ba giai đoạn trong sáng tạo của ông. Lúc đầu, ông chịu sự ảnh hưởng của thơ Becquer và các nhà thơ tượng trưng Pháp (Baudelaire, Verlaine). Giai đoạn thứ hai được đánh dấu bởi tác động của thơ tiếng Anh (Blake, Shelley, Emily Dickinson, William Butler Yeats). Giai đoạn thứ ba được xác định bởi sự lưu vong lâu dài, đây là giai đoạn tìm kiếm tinh thần, mong muốn đạt được giác ngộ, gần gũi nhất với truyền thống của các nhà thần bí Tây Ban Nha.

Tiểu sử:
Juan Ramón Jiménez sinh ở Moguer, gần Huelva, học xong cao đẳng Jimenez vào Đại học Seville nhưng bỏ để đi làm báo. Năm 1900, xuất bản tập thơ đầu tiên Hồn hoa tím (Almas de violeta) và tiếp theo đó gần như mỗi năm một tập thơ ra đời. Sáng tác thời kỳ đầu của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Đức và chủ nghĩa tượng trưng Pháp, giàu cảm xúc trữ tình với những hình tượng thiên nhiên đầy màu sắc.

Năm 1916, Jiménez sang New York cưới một cô gái Mỹ (mà ông làm quen trước đó 4 năm và đã cùng nhau dịch tác phẩm của Rabindranath Tagore sang tiếng Tây Ban Nha). Chuyến đi vượt đại dương này đã đánh dấu một cột mốc trong sáng tác của ông bằng tập thơ tự do Nhật ký nhà thơ mới cưới vợ (Diario de un poeta recién casado) ra đời năm 1917. Từ thập niên 1920, Jiménez được tôn vinh như một bậc thầy của thế hệ các nhà thơ mới; trong sáng tác, ông từ bỏ cách viết cũ, hướng thơ ca đến sự cởi mở, trong sáng mang tính nghệ thuật thuần túy.

Thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha, ông được cử làm tùy viên văn hóa danh dự ở Mỹ, nhiều lần đến đọc bài giảng ở các trường đại học Mỹ, Puerto Rico và Cuba. Năm 1939 Francisco Franco lên nắm quyền ở Tây Ban Nha, ông và vợ quyết định không quay trở về tổ quốc. Năm 1956 ông được trao giải Nobel "vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha".

Juan Jiménez là một tấm gương suốt đời tận tụy, trung thành với nghệ thuật thơ ca. Đối với ông, nghệ thuật là tôn giáo, trong đó thơ là nghi lễ duy nhất, sáng tạo là hình thức tín ngưỡng độc tôn. Thơ của Jimenez được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. 


Juan Ramon Jiménez mất tại Puerto Rico năm 1958, hưởng thọ 76 tuổi.

Tác phẩm:
Hồn hoa tím (Almas de violeta, 1900), thơ
Những bông huệ nước (Ninfeas, 1900), thơ
Vần điệu (Rimas, 1902), thơ
Những khúc ca buồn (Arias tristes, 1903), thơ
Những khu vườn xa (Jardines lejianos, 1904), thơ
Những bài thơ đồng quê (Pastorales, 1905), thơ
Những khúc bi ca (Elejias puras, 1908), thơ
Những khúc ca xuân (Baladas de primavera, 1910), thơ
Sự cô đơn âm vang (La soledad sonora, 1911), thơ
Những bài thơ huyền ảo đau buồn (Poemas májicos y dolietes, 1911), thơ
Mê cung (Laberinto, 1913), thơ
Mùa hè (Estio, 1915), thơ
Những bài sonet trí tuệ (Sonetos espirituales, 1917), thơ
Nhật kí nhà thơ mới cưới vợ (Diario de un poeta recién casado, 1917), thơ
Vĩnh cửu (Eternidades, 1918), tập thơ
Đá và bầu trời (Piedra y cielo, 1919), thơ
Thơ ca (Piedra, 1923), thơ
Vẻ đẹp (Belleza, 1923), thơ
Con thú từ độ sâu tâm hồn (Animal de fondo, 1949), thơ






25 bài thơ Song Ngữ

1-TUỔI TRẺ
(Adolescencia)

Chỉ còn lại ngươi và ta
Ta và ngươi trên ban công yên lặng
Ta gọi ngươi là vợ của ta
Trong buổi sáng này ít nắng.

…Cả thiên nhiên trong lười nhác ngọt ngào
Màu sắc mờ, bóng cây tái nhợt
Còn bầu trời xám xịt
Ánh sáng mùa thu mờ đục biết bao.

Ta ép sát môi vào
Và đôi mắt không mở
Còn ngươi kề đôi má
Như ngọc, như châu.

…Lá vàng chất thành đống
Trên những lối đi
Nhưng mùi hương còn thoảng
Mùi hoa hướng nhật quì.

Ta gọi ngươi là vợ của ta
Còn ngươi cúi đầu im lặng
Nhưng từ đôi mắt nóng bỏng
Hai giọt nước mắt tuôn ra.

ADOLESCENCIA

En el balcón, un instante
nos quedamos los dos solos.
Desde la dulce mañana
de aquel día, eramos novios.

— El paisaje soñoliento
dormía sus vagos tonos,
bajo el cielo gris y rosa
del crepúsculo de otoño —.

Le dije que iba a besarla;
bajo, serena, los ojos
y me ofreció sus mejillas,
como quien pierde un tesoro.

— Caían las hojas muertas,
en el jardín silencioso,
y en el aire erraba aun
un perfume de heliotropos —

No se atrevía a mirarme;
le dije que eramos novios,
...y las lagrimas rodaron
de sus ojos melancólicos.


2-NGỌN GIÓ TRONG BUỔI CHIỀU
(¡La otra tarde, se ha llevado)

Le vent de l'autre nuit
a jeté bas l'Amour…
P. Verlaine

Ngọn gió trong buổi chiều thu nhè nhẹ
Cuốn đi những chiếc lá vàng.
Những hàng cây buồn bã đứng trong đêm
Chao ôi, đêm sao mà dài thế!

Ánh trăng vàng lờ đờ, không sức sống
Bơi lững lờ trên những cành đen
Không tiếng khóc, chẳng nụ hôn
Trong ánh sáng của trăng đều chết lặng.

Tôi dịu dàng cùng hàng cây thỏ thẻ:
Đừng khóc thương chi những chiếc lá vàng
Sẽ nẩy lộc đâm chồi khi đến mùa xuân
Trên những cành cây mùa thu này trụi lá.

Nhưng hàng cây đứng lặng im buồn bã
Và tiếc thương cho mất mát của mình…
Xin đừng khóc cho những chiếc lá vàng
Hãy để lá xanh mọc ra thay thế.
_______________
*Trong đêm ngọn gió xô tượng Thần tình yêu xuống đất. 
P. Verlaine.

“¡La otra tarde, se ha llevado  …“

(Le vent de l'autre nuit
a jeté bas l'Amour...
P. Verlaine)

¡La otra tarde, se ha llevado
el viento mas hojas secas!
¡Que pena tendrán los arboles,
esta noche sin estrellas!

He entreabierto mi balcón:
— La luna camina muerta,
sin luz de besos ni lagrimas,
amarilla entre la niebla —.

Y he acariciado los arboles,
con miradas de terneza,
que les van abriendo hojitas
verdeluz de primavera.

¿Es que están soñando, así,
con sus pobres hojas secas?
Yo les digo: «No lloréis;
vendrán con las hojas nuevas».



3-TÔI TỪNG NÓI VỚI EM
(Yo dije que me gustaba)

Tôi từng nói với em, có một lần
và em chăm chú nghe tôi, im lặng
rằng tôi rất thích vào mùa xuân
tình yêu mặc áo quần màu trắng.

Đôi mắt xanh thắm ngước lên
ngắm nhìn tôi với niềm hi vọng
chỉ bờ môi còn bé bỏng
ánh lên một nỗi buồn.

Từ dạo ấy, khi đi qua quãng trường
tôi đi trong hoàng hôn tháng Năm yên lặng
còn em, đứng bên cửa ngoái nhìn
rất nghiêm túc, trong áo quần màu trắng.

“Yo dije que me gustaba …”

Yo dije que me gustaba
— ella me estuvo escuchando
que, en primavera, el amor
fuera vestido de blanco.

Alzo sus ojos azules
y se me quedó mirando,
con una triste sonrisa
en los virjinales labios.

Siempre que cruce su calle,
al ponerse el sol de mayo
estaba seria, en su puerta,
toda vestida de blanco.


4-KHI NGƯỜI PHỤ NỮ Ở CÙNG ANH
(Cuando la mujer está)

Khi người phụ nữ ở cùng anh…
thì âm nhạc, lửa, hoa lá cành
tất cả trong dịu êm, tĩnh lặng.
Còn nếu người phụ nữ không cùng anh
thì tất cả sẽ trở nên điên cuồng
cả âm nhạc, lửa và ánh sáng.

“Cuando la mujer está, …”

Cuando la mujer está,
todo es tranquilo, lo que es
— la llama, la flor, la música
Cuando la mujer se fue
— la luz, la canción, la llama
¡todo! es, loco, la mujer.



5-TRĂNG CÔ ĐƠN
(Luna Sola)

Màu tím vang lên, và ánh trăng buồn bã
Trải từ phương đông bằng sương đến bình minh
Tiếng chó sủa chốn ngoại ô lặng ngừng
Thời gian biến mất, rồi chìm trong hoang dã.

Ánh trăng rót lên hàng dương nghĩa địa…
Trong nhà thờ xưa, rêu sáng dưới trăng
Nước mắt ánh lên trong mạch nước vội vàng
Mặt đất hoang vu. Và chỉ còn biển cả…

LUNA SOLA

Cesó el clarín agudo, y la luna esta triste.
Grandes nubes arrastran la nueva madrugada.
Ladra un perro alejándose, y todo lo que existe
se hunde en el abismo sin nombre de la nada.

La luna dorara un viejo camposanto...
Habrá un verdín con luna sobre una antigua almena.
En una fuente sola, sera una luna en llanto...
Habrá una mar sin nadie, bajo una luna llena...


6-GỬI NHÀ THƠ
(A UN POETA para un libro no escrito)

Ta hãy tạo nên những cái tên

Trời cho ta một cuộc đời ngắn quá
Và cuộc sống các loài – thì cũng thế.
Còn đến muôn đời chỉ những cái tên
Không phải tình yêu – mà bài hát về tình
Không phải cỏ hoa – mà tên gọi loài hoa cỏ.

Cả tình yêu và cả loài hoa lá
Có cuộc đời bất tử khi ai gọi tên mình

Ta hãy tạo nên những cái tên.

A UN POETA para un libro no escrito

Creemos los nombres.

Derivaran los hombres.
Luego, derivaran las cosas.
Y sólo quedara el mundo de los nombres,
letra del amor de los hombres,
del olor de las rosas.

Del amor y las rosas,
no ha de quedar sino los nombres.

¡Creemos los nombres!



7-TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI MUÔN THUỞ
(Tarde ultima y serena)

Đã đến đây, như cuộc đời, ngắn quá
Rồi chia tay, lặng lẽ một buổi chiều.
Vĩnh biệt tất cả những gì đáng yêu…
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Những chiếc lá trong vườn vàng úa
Còn tôi đang huỷ hoại tâm hồn
Cháy lên sắc đồng của buổi hoàng hôn
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Chao ôi, cuộc đời này đẹp quá!
Xin đừng tắt những ngọn nến ai ơi…
Hãy để cho buổi chiều đến muôn đời
Và tôi sẽ là người muôn thuở!

“Tarde ultima y serena, …”

Tarde ultima y serena,
corta como una vida,
fin de todo lo amado;
¡yo quiero ser eterno!

— Atravesando hojas,
el sol, ya cobre, viene
a herirme el corazón.
¡Yo quiero ser eterno! —

Belleza que yo he visto,
¡no te borres ya nunca!
Porque seas eterna,
¡yo quiero ser eterno!


8-HÃY TRAO ANH BÀN TAY
(¡Tus dos manos, esperanza)

Hãy trao anh bàn tay, niềm hy vọng
Hãy theo về sau bờ giậu cùng anh
Ta đến nơi những vì sao toả sáng
Giữa tâm hồn, như ở giữa trời xanh.

Khép giùm anh – bằng bàn tay khác hẳn –
Đôi mắt anh, và sau phía lối mòn
Dẫn đường cho anh như người mù quáng
Bằng bàn tay như tuyết lạnh của em.

Nhưng mà qua miền xa thẳm mênh mông
Ta sẽ nhìn qua sắc màu buồn bã
Dưới ánh trăng đầy đặn của trái tim
Một màu xanh của tình yêu chan chứa.

Hãy chôn vùi anh, ở trong lòng anh
Khỏi cái nóng của cuộc đời hoang vắng
Để con đường trải rộng đến mênh mông
Nơi đất sâu, như bầu trời, xanh thắm.

“¡Tus dos manos, esperanza…”

¡Tus dos manos, esperanza
mía, y condúceme, enhiesto,
bajo las estrellas puras
del cielo que llevo dentro!

Clara, la una me guíe;
con otra, déjame ciego
en la pureza de nieve
de su palma de lucero.

— ¡Paisajes que, por lo hondo
de mi alma azul, veremos:
lunas de mi corazón,
fuentes de mi sentimiento! —

¡No me dejes mas salir
a los deciertos del cuerpo!
¡Siempre adelante, esperanza,
por dentro de mí, derecho!


9-KHÔNG CÓ GÌ
Nada (A tu abandono opongo la elevada)

Như một cái tháp cao – những ý nghĩ của anh
Trong sâu thẳm của em xếp lên chóp ngọn
Và con tim từ trên cao chiếu vào trên biển
Bọt màu hồng của sóng biển trào dâng.

Còn anh cháy lên như màu vàng của lửa
Trong bóng tối của mình anh đốt bình minh
Trụ đỡ duy nhất ngự trị ở trong mình
Thế giới này… có là vô tích sự?

Không có gì!… và con tim chối bỏ
Chìm vào sâu, và trong đáy bầu trời
Lạnh lẽo vô cùng, đờ đẫn lẻ loi…

Em - đấy là em, mùa xuân! tâm hồn hớn hở
Là lửa, nước, là không khí, đất đai
…còn anh chỉ là ý nghĩ và không có gì ngoài…


NADA

A tu abandono opongo la elevada
torre de mi divino pensamiento.
Subido a ella, el corazón sangriento
verá la mar, por el empurpurada.

Fabricare en mi sombra la alborada,
mi lira guardare del vano viento,
buscare en mis entrañas mi sustento...
Mas iay!, ¿y si esta paz no fuera nada?

¡Nada, sí, nada, nada!.. — O que cayera
mi corazón al agua, y de este modo
fuese el mundo un castillo hueco y frío...

Que tú eres tu, la humana primavera,
la tierra, el aire, el agua, el fuego, ¡todo!
... ¡y soy yo solo el pensamiento mío!



10-BAY ĐI NHỮNG MŨI TÊN VÀNG
(Por doquiera, flechas de oro)

Bay đi những mũi tên vàng
từ mùa thu ngoài mặt trận.
Một nỗi đau ngự trị giữa không gian
như thuốc độc trong vết thương đau đớn.

Còn ánh sáng, và hoa, và đôi cánh
như những người chạy nạn đứng trên bờ.
Và con tim đang bơi ra ngoài biển
để trên bờ bao nhiêu nỗi buồn lo.

Tất cả than phiền, tất cả gọi
ai ai cũng ngóng đợi trả lời.
Câu hỏi: ngươi ở đâu?.. ngươi đi đâu đấy?..
nhưng câu trả lời không rõ một ai…


 “Por doquiera, flechas de oro …”

Por doquiera, flechas de oro
matan al verano. El aire
lleva penas diluidas,
como venenos la sangre.

Todo — las alas, las flores,
la luz — se va de viaje.
¡Qué de despedidas tristes!
El corazón al mar sale.

Escalofríos y lágrimas.
— ¿Adonde os vais? — ¿Donde estáis?
Todo a todo le pregunta.
Nada ni nadie lo sabe...



11-CÂY CẦU TÌNH YÊU XƯA
(A la puente del amor)

Ta lại đứng bên cây cầu tình yêu xưa
Cây cầu nối hai bờ vách đá
Con tim hãy quên bóng cành bóng lá
Và hãy quên những cuộc hẹn hò.

Giờ với ta dòng nước là bạn gái
Dòng nước đi nhưng chẳng đổi thay
Dòng nước chảy như thời gian trôi vậy
Dẫu ra đi, không từ giã người này.


“A la puente del amor, …”

A la puente del amor,
piedra vieja entre altas rocas
— cita eterna, larde roja —,
vengo con mi corazón:

Mi novia sola es el agua,
que pasa siempre y no engaña,
que pasa siempre y no cambia,
que pasa siempre y no acaba. –

12-GIẤC MỘNG CỦA EM
(El dormir os como un puente)

Giấc mộng của em – như cây cầu trong đêm vắng
em lang thang trong tĩnh lặng trên cầu.
Còn phía dưới – tiếng rì rào như trong mộng
nhưng có phải tâm hồn và dòng nước kia đâu.

 “El dormir os como un puente …”

El dormir os como un puente
que va del hoy al mañana.
For debajo, como un sueño,
pasa el agua.


13-EM ĐỪNG VỘI
(¡No corras, ve despacio)

Em đừng vội, bởi vì rằng tất cả
mọi con đường dẫn em đến với mình.

Em đừng vội, nếu không sẽ muộn màng
nếu không, cái “tôi” của riêng em đó –
đứa bé con, không phút chốc – sinh ra
và em muôn thuở
không đuổi kịp bao giờ!


 “¡No corras, ve despacio, …”

¡No corras, ve despacio,
que adonde tienes que ir es a ti solo!

¡Ve despacio, no corras,
que el niño de tu yo, reciennacido
eterno,
no te puede seguir!



14-MỘT Ý NGHĨ MÀU ĐEN
(Se entró en mi frente el pensamiento negro)

Hiện lên một ý nghĩ màu đen
Như con chim bay từ trong đêm vắng
Giữa ban ngày, bên cửa sổ ngồi lên.

Tôi không biết làm sao xua đuổi được chim!

Chim ngồi đấy, lặng im, bất động
Xa lạ với hoa và suối và sông.

“Se entró en mi frente el pensamiento negro, …”

Se entró en mi frente el pensamiento negro,
como un ave nictálope,
en un cuarto, de día.

— ¡No sé qué hacerle para que se vaya!

Esta aquí, quieto y mudo,
sin ver las aguas ni las rosas.
  




15-TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI
(Yo no soy yo)


Tôi không phải là tôi.
Mà là ai đấy khác.
Tôi đi với ai, tôi nhìn thấy ai người
hầu như không thể nào phân biệt được.
Khi tôi huyên thiên, ai im lặng
ai tha thứ, khi tôi căm thù
ai đến, khi tôi bỏ đi
và ai đứng vững khi tôi ngã xuống.

 “Yo no soy yo …”

Yo no soy yo.
Soy este
que va a mi lado sin yo verlo;
que, a veces, voy a ver,
y que, a veces, olvido.
El que calla, sereno, cuando hablo,
el que perdona, dulce, cuando odio,
el que pasea por donde no estoy,
el que quedará en pie cuando yo muera.


16-CÓ PHẢI LỜI EM
(¿Era su voz la fuga del arroyo)

Có phải lời em là tiếng vang của suối
đã mất rồi trong phản chiếu ánh hoàng hôn
hay ánh phản chiếu của hoàng hôn sau cuối
trên mặt nước trôi đi, và đã không còn?

 “¿Era su voz la fuga del arroyo,  …”

¿Era su voz la fuga del arroyo,
que se oía correr en el poniente rápido;
o la luz del ocaso moribundo,
que corría en el agua que se iba?


17-TÌNH YÊU
Amor (Mi corazón estaba…)

Con tim tôi
tựa như đám mây trĩu nặng
cháy lên bằng lửa hoàng hôn muộn
co thắt vào bởi nỗi đau
xuyên qua lửa, vàng, ánh sáng.

AMOR

Mi corazón estaba
como un nubarrón cárdeno,
de un poniente de fuego;
¡retorcido, morado de dolor,
trasparente de luz, de fuego, de oro!



18-HOA HỒNG
(Rosas)

Em đã chết
Nhưng tại sao vẫn sống nỗi buồn
Từ đôi mắt nhìn màu đen như trước?

Chẳng lẽ niềm vui khi chết không thoát được?
Và một điều còn mãi – nỗi đau khổ của ta?

ROSAS

¿Como, si estás ya muerta,
la pena mira así,
viva, en tos ojos todavía negros?

¿Qué es lo que muere, entonces, la alegría?
¿Qué es, entonces, lo eterno, la tristeza?



19-NỖI BUỒN TỘI NGHIỆP CỦA TÔI
(Mi Triste Ansia)

Màn sương trải rộng
chứ không phải dòng sông.
Và làm tan sương – là sóng
như một nỗi buồn.

Làn khói vẫy vùng
chứ không phải là đôi cánh.
Rồi khói tản ra – trở thành
ánh sáng.

Không phải tâm hồn hành hạ
mà chỉ giấc mơ.
Và tan ra tất cả
như một giấc mơ.

MI TRISTE ANSIA

Lo que corre por la tierra es humo,
no agua.
Y su azul se desvanece como
mi ansia.

Lo que vuela por el aire es bruma,
no ala.
Y su pluma se deshace como
mi ansia.

Lo que sube por la sombra es sueño,
no alma.
Y su gris se descompone como
mi ansia.


20-ĐẠI TÂY DƯƠNG KHÔNG BỜ BẾN
(Este inmenso Atlántico)

Một vực thẳm của sự cô đơn.
Một người đến với đại dương từ xa lắm
một mình, cô đơn như con sóng
con sóng một mình trên biển cô đơn.

ESTE INMENSO ATLÁNTICO

La soledad esta sola.
Y sólo cl solo la encuentra
que encuentra la sola ola
al mar solo que se adentra.


21.TA VẪN NGHĨ RẰNG MỌI THỨ TRÊN TRẦN
(Creímos que todo estaba)

Ta vẫn nghĩ rằng mọi thứ trên trần
sẽ đi vào lãng quên và biến mất…
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Trên màn sương trắng như kính như gương
nóng bỏng vô cùng những dòng nước mắt…
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Giữa trời ướt át và vẻ lạnh lùng
ngày đen đang dần chết.
Còn trong tim đang mỉm cười – sự thật
đợi thời khắc của mình. 

Creímos que todo estaba

Creímos que todo estaba
roto, perdido, manchado...
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —

¡ Lagrimas rojas, calientes,
en los cristales helados!..
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —

Se acababa el día negro,
revuelto en frío mojado...
— Pero, dentro, sonreía
lo verdadero, esperando. —




22.THU CA 

Sếu bay dưới trời hoàng hôn… Sếu bay đi về đâu?
Dòng sông đầy ắp lá vàng… Sông chảy về đâu?
Tôi đi trên cánh đồng vàng … về đâu chẳng biết
Hỡi mùa thu vàng, chim và hoa, và nước chảy về đâu?

CANCIÓN DE OTOÑO

Por un camino de oro van los mirlos... ¿A donde?
Por un camino de oro van las rosas... ¿A donde?
Por un camino de oro voy... ¿A donde,
otoño? ¿A dónde, pájaros y flores?


23.HỠI NGƯỜI HỌA SĨ 
(Pintor que me has pintado) 

Hỡi người họa sĩ, anh đã vẽ tôi
giống hệt tôi và vô cùng sống động
làm tôi tin rằng đấy chính là tôi
còn bây giờ xin anh hãy vẽ tôi
sao cho không hề giống
để tôi tin rằng: hình ảnh – dối gian thôi.

Pintor que me has pintado

Pintor que me has pintado
en este cuadro vago de la vida,
tan bien, que casi
parezco de verdad; ¡ay; pínta-
me nuevamente, y mal, le modo
que parezca mantira!


24.ĐIỀU GÌ XẢY RA VỚI ÂM NHẠC 
(¿Qué le pasa a una música)

Điều gì xảy ra với âm nhạc
khi im bặt dây đàn
điều gì xảy ra với tia sáng
khi không còn lấp lánh ngọn hải đăng?
Hãy thừa nhận 
hỡi tử thần
Có phải ngươi là bóng đêm và tĩnh lặng?

¿Qué le pasa a una música

¿Qué le pasa a una música,
cuando deja de sonar; qué
a una brisa que deja
de revolar, y qué
a una luz que se apaga?
Muerte, di, ¿y que eres tu sino silencio,
calma y sombra?




25.ANH SẼ HỒI SINH 
(Renaceré yo)

Anh sẽ hồi sinh làm hòn đá trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm cơn gió trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm con sóng trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm ngọn lửa trên trần
Và lại yêu em như một người phụ nữ.

Anh sẽ hồi sinh làm một người đàn ông
Và lại yêu em như một người phụ nữ. 

Renaceré yo

Renaceré yo piedra,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo viento,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo ola,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo fuego,
y aún te amaré mujer a ti.

Renaceré yo hombre,
y aún te amaré mujer a ti.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét